
Song
Various Artists
Chuyện Bên Thầy

16
Play
Download
This song is temporarily unable to play
Lyrics
Uploaded byyaya_678
Nam-mô Bổn-sư Thích-ca-mâu-ni-phật Đây,
chương trình Những Mẫu Chuyện Bên Thầy phần tiếp theo
Do nghệ sĩ Thanh Kim Huệ,
Thanh Điền và đồng đạo Thiện Nghĩa thực hiện
Xin gửi đến quý vị lời chào thân ái
Và cầu mong ơn trên Tam Bảo Hộ Trì
Cho quý vị được hưởng trọn dạng phúc duyên
Trong tình thương đại đồng của Đức Phật
Nam-mô-a-di-đà-phật
Dạy Đạo Cứu Đời
ở xã Long Kiến,
cùng một số tính đồ từ Long Xuyên,
Châu Đốc đến Diến Đức Thầy.
Suốt ngày,
người ta kéo đến nhờ Đức Thầy trị bệnh không ngớt.
Sau đó,
Ngài đem lời Đạo Lý ra bài giải,
khuyến khích mọi người lo tu hành
để thoát khỏi sự khổ triền biên từ kiếp này qua kiếp khác.
Có đoạn Ngài nói,
"- Tôi có bộ phận dạy Đạo để cứu đời,
chất không phải trị bệnh cứu đời.
Nhưng bá Tánh không hiểu,
cứ kéo lại xin thuốc xin bùa mãi.
Buộc lòng tôi tạm dùng ít giấy vàng,
lá cây,
nước lạnh mà giúp đỡ họ.
Để họ có dịp gần gũi và nghe được lời đạo lý mà tu hành,
thoát khổ.
Cho sau này số người mắc bệnh có lúc đông không thầy thuốc nào cứu kịp.
Nói đến đây,
Ngài đưa bàn tay trái lên và điểm từ ngón mà nói rằng.
Nếu bây giờ bá tánh không tô,
Trừng sao?
Đúng thời kỳ rồi.
Con Phật,
Phật giắc.
Con Ma,
Ma bắc.
Con quỷ,
quỷ diệt.
Thuộc theo lời ông Huỳnh Hữu Hạnh tự Hương Quảng Chiến
Phần nhận xét
Đức Thầy cho biết nhiệm vụ của Ngài là giải đạo cứu đời.
Thật vậy,
các đấng cứu thế bao giờ cũng chú trọng vào việc đưa chúng sanh ra khỏi sông mê trở về bờ giác,
mới dĩ nhiên an vui.
Thế nên,
lòng tự ái chứa trang của bậc Đại giác như Ngài thì bao giờ cũng muốn cắt đứt cái khổ sanh tử triền miên mà đưa con người đến chân hạnh phúc.
Còn việc chữa bệnh,
cứu đời là phương tiện để độ kẻ nghiệp nặng tình sâu.
Bởi người được giải thoát sanh tử mới hoàn toàn hết khổ.
Còn kẻ được cứu khỏi bệnh thân thể chỉ là một giai đoạn tạm thời,
chớ làm sao mà hết khổ được.
Thế nên ta hãy gấp rút tu hành,
kẹo tử thần không hẹn.
Mẫu chuyện tiếp theo
Đức Thầy uống nước AXIT
Dạo khoảng cuối năm canh thình,
nhà cầm quyền Pháp dời Đức Thầy đến nhà thương chợ quán.
Chúng ác tâm muốn ám hại Đức Thầy bằng cách ném đá giấu tai.
Một hôm,
tên quan Ba Pháp kêu ông bác sĩ Trần Giang Tâm trao ly nước ác xích,
bảo cho Đức Thầy uống.
Ông Tâm tiếp ly nước ác xích,
đến gần Đức Thầy rồi nhìn ly thuốc đọc ấy,
có vẻ buồn vô hạn.
Ông Dư Hiểu là không một ai có thể uống một phần mười của ly thuốc này mà sống được.
Cho nên ông không nở xuống tai,
nhưng cũng không có cách nào cãi lệnh của kẻ cường quyền.
Đức Thầy biết được,
muốn cởi mở sự khổ tâm của ông Tâm.
Liền tươi cười bảo,
"- Ông đem thuốc bổ cho tôi uống đây à?
Được,
cứ đưa tôi uống." Vừa nói,
Ngài vừa đưa tai tiếp nhận ly ác xích.
Ông Tâm miễn cưỡng đưa cho Thầy với một tâm hồn đau khổ hiện ra nét mặt.
Uống xong,
Đức Thầy nằm ngủ một giấc.
Khi thức dậy,
Đức Thầy nhìn ông Tâm mà cười nói
Bác sĩ cho tôi ly thuốc bổ khi nãy.
Tôi uống xong,
thấy trong mình tôi khỏe quá.
Ông Tâm rất đổi ngạc nhiên và kính phục ngài.
Thật ngoài sức tưởng tượng của nhà khoa học.
Ông còn đang mê mang suy nghĩ,
thì Đức Thầy kêu ông Tâm nói tiếp
Bác sĩ,
ông đi trị bệnh cho người ta,
chứ vợ ông ở nhà đang mắc bệnh năng y
Chẳng những ông không trị được mà các bác sĩ khác cũng đều bó tan
Thế nên,
tôi không nợ uống hết,
mà còn chừa lại một phần đây
Ông cứ đem về cho vợ ông uống,
thì mạnh liền chứ không có sao đâu
Vì quá khâm phục đức thầy,
ông Tâm liền tiếp nhận ly nước ác xích đem về.
Đứng bên cạnh dường bệnh của vợ, ông gọi,
Bà ơi, ngủ thức.
Với giọng nói yếu ớt,
mệt nhọc, bà Tâm trả lời,
Thức.
Thuốc đây,
bà uống đi.
Bà Tâm vừa đưa tay nhận,
thì ông Tâm dựt lại.
Với giọng nghẹn ngào, ông nói,
Bà ơi,
giữa tình nghĩa vợ chồng,
từ khi bà lâm bệnh đến nay,
tôi cũng hết lòng lo chạy giữa.
Nhưng kết quả chỉ thất vọng mà thôi.
Hôm nay tôi đi làm việc,
vừa chứng kiến một cảnh kỳ lạ.
Bà biết ly này là ly gì không?
Không đợi bà trả lời,
ông nói,
đó là nước ác xích.
Bà tâm lặng lẽ nhìn chồng để chờ nghe rõ câu chuyện.
Ngừng một lúc, ông tiếp.
Bà biết không,
hồi sáng này,
tên quan Ba Pháp đưa ly nước ác xích.
Bảo tôi phải cho một ông đạo ở tỉnh Châu Đốc thôn quà hảo uống.
mà chú bảo là bệnh thần kinh.
Nhưng theo dõi ông,
thì tôi không thấy ông bệnh một chút nào cả.
Chỉ thấy ông có một phong độ khả kính,
những nét thông minh và sắc thái vượt hẳn người thường.
Ngoài những điểm ấy,
ông lại làm nhiều việc tôi nghĩ không phải là hạng phàm tình.
Bà biết không,
khi ông uống nước ác xích dơ,
chẳng những ông không chết như kẻ khác,
mà còn cho là bổ khỏe,
và biết là bà ở nhà có bệnh nang y,
bảo tôi đem về nhà cho bà uống sẽ hết bệnh.
Nhìn dở,
ông bác sĩ tiếp,
ai cũng biết thứ này là thứ giết người,
nhưng bệnh của bà thì tôi thấy không thể sống được,
nên tôi muốn cho bà uống.
Mai ra,
trời Phật nhỏ phước cho bà hết bệnh
thì hạnh phúc biết bao.
Vì tôi tin rằng ông đạo ấy là Bật tiên Phật thị hiện
để cứu khổ cho gia đình mình.
Tuy nhiên,
cầm ly thuốc độc đưa cho bà,
tôi thấy lòng còn lo sợ.
Vậy theo ý bà thì sao?
Cho tôi biết với.
Bà Tanh tỏ vẽ vui tươi.
Nếu vậy,
ông cứ đưa tôi uống đi.
Có lẽ trời Phật ban phước cho gia đình ta.
Tôi uống ly thuốc này mà có chết cũng vui.
Chứ ông nghĩ coi,
sống làm chi,
để kéo dài sự đau khổ cho thân mình,
cho luôn cả chồng con.
Cả chồng con,
thà uống,
theo tôi,
đây là cơ hội ngàn năm một thở,
nếu có chết,
linh hồn cũng được an vui.
Nói xong,
bà Tâm tiếp lấy ly thuốc đưa lên tráng khấn nguyện rồi uống vào,
trong khi ông Tâm nhìn vợ dễ dã bồi hồi loa sợ.
Một lát sau,
ông hỏi bà,
có gì lạ không bà?
Bà Tâm nói,
thấy khỏe lắm,
bệnh của tôi giảm nhiều rồi.
Ông Tâm mừng rỡ vêu cùng,
rồi sau đó bà Tâm hoàn toàn lành bệnh hẳn.
Thuật theo lời ông Lê Văn Phú.
Mẫu chuyện tiếp theo
Cấm thỏa thật ba nhà
Theo lời ông Lê Văn Lươ,
ngày 22 tháng 9 tân tỵ năm 1941,
chính ông được nghe ông Cao Bá Hấn thuật lại rằng Thuật lại rằng,
ông Cao Bá Hấn là tính đồ thường gần gũi Đức Thầy với nhiệm vụ thư ký.
Một hôm ông Hấn ngõ ý hỏi Đức Thầy về vấn đề xử thế tiếp vật,
phải làm thế nào cho đúng với tư cách của người con Phật,
và nên giao tiếp với những hạng người nào trong xã hội.
Lúc ấy,
đến buổi dùng cơm,
Đức Thầy nghiêm nghị nhìn ông Cao Bá Hấn mà nói rằng,
Tôi cấm ông không được dùng côm ở ba nhà
Ông hấn ngạc nhiên nói
Bạch thầy,
có biết bao nhiêu nhà trên đất này
Thầy cấm có ba nhà thì làm sao mà con tránh được
Đức thầy dạy
Ông nhớ nghe
Ba nhà là
Một,
nhà buôn bán xúc vật
Hai,
nhà chiêng nuôi xúc vật
Ba,
nhà làm nghề hạ bạc
Tức là nghề chạy lưới,
đánh bắt cá tôm.
Thời gian ít lâu sau,
ông Cao Bá Hấn ghé thăm nhà một người bạn làm nghề đóng đáy,
tức là dăn lưới để bắt cá ở sông hay rạch.
Ông mãi mê trò chuyện khá lâu,
đến buổi dùng cơm,
gia đình dọn mâm lên mời ông dùng bữa.
Ông trợt nhớ lại lời thầy dạy,
nên ông liền từ chối không dùng bữa.
Thấy hành động bất thường của ông,
chủ nhà ngạc nhiên hỏi
Từ trước tới giờ,
mỗi lần anh ghé thanh,
không bao giờ từ chối những bữa cơm thường nhật
Hôm nay có điều gì phiền muộn,
hay tôi có làm lỗi gì chẳng
mà anh lại từ chối với gia đình tôi như vậy?
Ông Hấn xua tai đáp
Không không,
không có việc chi buồn phiền
mà gia đình anh cũng không có gì làm tôi phật ý cả
Chẳng qua tôi giữ theo lời thầy cấm tôi đó thôi
Thầy cấm thế nào?
Ông cao bả hấn đáp
Thầy cấm tôi không được ăn cơm ở ba nhà
Một là nhà buôn bán xúc vật
Hai là nhà nuôi xúc vật
Ba
là nhà làm nghề hạ bạc
Mà nhà anh đang làm đó
Chủ nhà nghe nói ngắt lời
Nếu Đức Thầy đã cấm anh như vậy tôi không ép
Nhưng anh là tín đồ của Thầy
Tôi cũng là tín đồ của Thầy
Thầy cấm anh
Tôi cũng phải chừa nữa chứ
Thôi,
anh hãy dùng với tôi bữa cơm này,
tôi hứa với anh sẽ không làm nghề này nữa."
Ông Hấn nghĩ,
biết đâu thầy dạy mình để quá độ bạn này.
Nghĩ xong,
ông liền nhận lời dùng cơm với gia đình.
Người bạn và ông thầm khấn nguyện đức thầy sẽ chứng giám cho việc làm của mình.
Thật thế,
sau khi bạn ông Cao Bá Hấn dùng bữa cơm xong,
ông liền đem lưới đục ra,
lưới ông bầm to bầm nhỏ,
đục ông chặt bỏ ráo rơn.
xong ông xoay qua nói với ông Cao Bá Hấn
Thầy đã cấm mình không cho làm
mà mình để cho người khác làm
thì mình cũng có một phần lỗi lớn
thuộc theo lời ông Lê Văn Lương
Phần nhận xét
Câu chuyện này thầy dạy ông Hấn
mà cũng là quấn từ để dạy chung cho tất cả tính đồ
bởi vì trong 10 điều ác
thì ác sát xanh là đứng đầu
và trong năm giới,
giới sát cũng là di thủ,
bởi nhà buôn bán xúc vật và nuôi xúc vật,
cũng như làm nghề chài lưới,
đều là gây tạo quá nặng nề sát nghiệp.
Nên chẳng những thầy cấm,
mà Đức Phật xưa kia cũng cấm chứ đệ tử không cho gần gũi và thọ thực ở nơi có tạo ác nghiệp nói trên.
Đức Thầy cũng đã từng dạy,
sinh vật cũng có linh hồn,
cũng có thân sát,
cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân lõi vậy.
Lời Thầy cấm ông Hấn không cho thọ thực ba nhà là một tiếng chuông thức tỉnh những ai có duyên với Thầy.
Ông bạn của ông Cao Bá Hấn quả là người có thiện căng nên vừa nghe ông Hấn kể lại liền giác ngộ rất nhanh,
mà chặt bỏ lưới đục và kết luận bằng câu
Thầy đã cấm mình,
mình không làm,
mà để cho người khác làm thì cũng có một phần lỗi lớn.
Câu nói,
tuy thông thường mà hàm chứa một ý nghĩa thanh cao,
rất xứng đáng là một tính đồ ngoan đạo.
Thật vậy,
nếu một tính đồ biết tuân thủ lực quy của thầy tổ như ông hấn và người bạn ông,
thì có lo gì không chống đạt đến kết quả thanh cao để đến nơi đầy an lạc hạnh phúc.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo
Chết ăn không được
Vào khoảng tháng tư năm canh thình,
một ngàn chín trăm bốn mươi,
một buổi chiều nọ,
ông Lê Pháp Huynh đi xuống tổ đình để nghe nước thầy thuyết pháp.
Sau khi giải bài tường tận cho đồ chúng nghe về giáo lý nhà Phật,
Khi bàn đến việc quẩy đôn cuốn tế,
Đức Quỳnh Giáo chủ hướng về phía ông Khuynh,
ngài bảo
Này ông hương trưởng,
lúc mạnh,
mỗi buổi ông ăn không được mấy chén?
Ông Khuynh vội vàng đáp,
Bạch thầy khi mạnh giỏi,
tôi ăn được 5-7 chén.
Đức thầy lại hỏi
Còn lúc đau,
ông ăn được mấy chén?
Dạ Bạch thầy,
lúc đau,
tôi ăn chừng 1-2 chén là quá rồi.
Đức Thầy lại hỏi dồn
Lúc chết ông ăn được mấy chén?
Với câu hỏi đột ngột
Ông Khuynh lặng thinh không biết nói sao
Vì chẳng biết Đức Thầy muốn dạy gì
Tôi hỏi thật đó
Ông Khuynh có vẻ lúng túng
Ngượng trả lời
Dạ Bạch Thầy,
lúc chết
Ăn sao được mà ăn?
Đức Thầy liền nhỏ nhẹ
Đúng thế ông à
Khi chết
Con người không bao giờ ăn được
Sở dĩ con cháu cúng vỗ là để tượng nhớ đến công ân bật sanh thành dưỡng dục
và để nhớ Ngài chia cách đời đời.
Nhưng nếu sát sanh gà dịch nhiều thì linh hồn của người chết khó được siêu thoát.
Ngài giãn luận một hồi lâu rồi vào trong,
lát sau Ngài đi ra.
Ngài lúc đó anh em đồng đạo đang bàn bạc nhưng chưa ngã ngủ được vấn đề.
Thấy Đức Thầy ra,
một đồng đạo liền đứng lên bạch.
Thưa Thầy,
chúng con đến Ngài quẩy đôm,
muốn cúng thì phải làm sao?
Mong Thầy chỉ dạy.
Đức Thầy đáp.
Cúng ít,
tội ít,
cúng nhiều,
tội nhiều.
Có dĩ đồng đạo lẹ miệng.
Không cúng được không Thầy?
Không cúng,
xa địa ngục.
Lời Ngài nói như có vẻ quả quyết.
Sau đó,
Ngài xướng đọc bài thi Báo Hiếu Đạo Nhà cho tất cả mọi người nghe và khuyên nên cúng chai.
Trong sạch nghĩa nhân dày mới đúng Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay
Thuật theo lời ông Nguyễn Giang Thượng
Phần nhận xét Phần đông người ta quan niệm sự cúng kiến là để cho ông bà ăn như khi còn sống
Chứ không ngờ ai cũng là thân tứ đại Khi chết phải trả về cho tứ đại thì làm sao mà ăn cho được
mà ăn cho được,
còn linh hồn thì theo con đường tội phước.
Hơn nữa,
thần thức không có hình tướng thì đâu ăn uống như người sống được.
Thế mà người ta lại cứ lo sát sanh,
hại vật,
cúng kiến,
làm cho dòng linh
phải chịu lấy quả báo khổ đau mà không sao nói được.
Thế nên Ngài bảo,
cúng ít tội ít,
vì cúng ít là sát sanh ít,
cúng nhiều tội nhiều.
Tội nhiều là vì sát sanh nhiều,
còn không cúng thì có người không nhớ nguồn cội,
nên tội lại càng nặng hơn.
Để phá tan sự ngộ nhận của người đời,
Ngài mới đưa ra tám câu thi,
hầu dạch rõ lối đi cho mọi người được thức tỉnh mà làm tròn chữ hiếu.
Nghĩa là muốn báo hiếu cho cha mẹ tổ tiên thì nên cúng chai,
vừa tránh được sát nghiệp vừa báo hiếu giãn toàn.
Chào thời Đức Phật Tích Ca Mau Ni còn tại thế,
Ngài kể rằng
Xưa có ông trưởng giả,
ông này bình sanh thường làm việc thiện,
rất tin luật nhân quả.
Khi lâm trọng bệnh,
ông gọi các con lại dặn
Khi cha chết,
các con nhớ phải cúng chai,
từ đám từng,
từ quải đơm nhất định không được cúng mặn cho cha nhé.
Khi ông từ trần,
con cháu y lời cúng chai.
Đến thất thứ bảy,
chúng mới bàn tán.
Cha mình khi sống không ăn chai trường.
Nai chết,
mình cứ cúng chai hoài làm sao cho cha ăn ngon miệng.
Hơn nữa,
mình mời bạn bè đến mà cúng chai hoài.
Người ta nói mình hạ tiện.
Cúng cha không dám làm thịt gà, thịt heo.
Thôi thì còn một tầng cuối để mình làm heo cúng cha.
Trước cúng sao mời bà con đến để đải đằng,
thế là họ làm heo,
làm gà, dịch,
cúng tuần trung thất cho ông rất linh đình.
Còn đang ăn uống,
bổng của đứa bé độ mười tuổi dẫn con trâu đến ngay trước cửa,
tự nhiên con trâu ấy ngã ra chết tốt.
Đứa bé liền lấy nắm cỏ đúc vô miệng bảo,
ăn đi trâu,
ăn đi trâu.
Thấy hành động kỳ lạ,
những người trong nhà liền nói,
Thằng nhỏ này bộ điên rồi sao chứ?
Con trâu đã chết rồi cứ đúc cỏ,
kêu ăn hoài,
làm sao ăn được?
Đứa nhỏ nói,
Trâu tôi mới chết còn nóng hổi,
tôi cho nó ăn cỏ,
các ông nói tôi điên.
Còn cha các người đã chết 49 ngày rồi,
mà các người còn đòi cúng cho ông trưởng giả ăn như vậy.
Các người mới là điên hơn tôi chứ".
Con ông trưởng giả hỏi,
"- Ê,
mày ở đâu?
Con của ai mà dám nói tụi tao điên vậy?"
Đứa nhỏ đáp,
"- Ta là trưởng giả,
cha của các ngươi đây.
Bởi các ngươi không nghe lời dạy của ta mà sát sanh cúng kiến,
khiến ta phải chịu tội khổ nên ta hiện đến để cho các ngươi biết.
Các ngươi là con bất hiếu,
chớ không phải là báo hiếu ta đâu."
Nói xong,
con trâu và đứa bé biến mất.
Bây giờ,
các con ông trưởng giả đều sám hối phát tâm tu hành.
Mẫu chuyện tiếp theo
Truyền Phép Linh
Một buổi chiều, ngày đầu năm canh thình 1940,
Đức Thầy sau khi thăm các danh lam thắng cảnh trên ngọn núi Tà Lơn Hùng Vĩ,
Ngài trở về xã Thới Sơn thuộc quận tỉnh Biên.
Đêm ấy,
Ngài tạm trú tại nhà bà nhạc mẫu ông Hương Giáo Tập,
một bà lão rất hâm mộ đạo Pháp.
Nghe tin Đức Thầy về đây,
tất cả tính đồ quanh nhà bàn lũ lược đến nghe Đức Thầy thuyết Pháp.
Có một người đứng lên cung kính bạch với Ngài rằng,
Bạch Thầy,
mấy ông đạo trên núi thường luyện Pháp để sao Phò Vua giúp nước.
Còn Đức Thầy,
sao không dạy đệ tử luyện Pháp như bên Tiên Đạo?
Đức Thầy đáp.
Đạo Phật chỉ dạy con người tu tâm sửa tánh cho được trọn lành,
trọn sáng.
Còn Pháp thuật là tà giáo.
Nếu con ham luyện Phép,
tức con nuôi ốc cạnh tranh và cầu danh lợi.
Thuộc theo lời ông Ngô Thành Bá
Phần nhận xét
Nhiều người đứng ngoài ngưỡng cửa của Đạo Phật không nhận xét rõ cái mục đích chính của Đạo Phật ra sao sao,
nên họ chỉ nhìn qua lo rồi dội kết luận rằng
đạo Phật là một đạo chỉ dành cho người ta
gian sinh, cầu khẩn hoặc làm nhiều sự linh ứng có tính cách thần kỳ.
Chính ông đồng đạo kể trên cũng ham linh như bao nhiêu người khác
nên mới đem chuyện phép linh hỏi với Đức Thầy.
Đức Giáo Chủ tất nhiên là đã dư hiểu tâm niệm của tính đồ mình và tâm lý chung của quần chúng,
nên Ngài lột bỏ ốc cảnh tranh và mê tính của con người để gọi họ trở về với chân lý.
Thật vậy,
chỉ có chân lý là bất diệt,
Và có đủ diệu năng đưa con người dược khỏi dòng tiếp nối sanh tử.
Đó là sự trao tâm,
sửa tánh,
Cho đến nơi trọn sáng, trọn lành,
Là điều căn bản mà Ngài đã từng dạy.
Trao tâm,
luyện tánh cho minh,
Chuyên lo niệm Phật,
sửa mình cho trơn.
Quyển năm khuyến thiện.
Còn việc bùa phép thì kẻ tà mị làm cũng được,
Nên thầy dí nó như cá linh.
Họ có thể hô phong, quán võ,
sái đậu thành binh,
Mà biến quá Phật thánh,
dân dân.
Xưa Tổ U Ba Cúc La đã giàu ngôi vị Tổ,
Mà khi Ma Dương biến ra Phật còn phải lễ bái,
Dù rằng Tổ đã bảo Ma hiện ra cho Ngài xem.
Thế mà khi chúng hiện,
Ngài còn ngỡ là Phật đến.
Nhưng sở dĩ chúng thua Phật là bởi Chúng không có chân lý dững chắc,
Cũng không có từ bi hỷ xã,
Cũng như chưa đạt lậu tận thông.
Nên khi chúng ta hôm nay ở vào buổi Cùng cơ tận Pháp,
Nghiệp nặng, tình dày,
Trướng sâu,
huệ cạn,
Thế mà còn ham linh, ham nghiệm,
Sao tránh khỏi sợ e mang nghèo?
Chẳng những nghèo vàng bạc,
mà đạo đức cũng nghèo.
Chẳng khác nào người bị bệnh quá nặng mà không lo uống thuốc theo lời chỉ dạy của lương y,
lại đi tìm tội coi thuốc đó từ đâu có.
Của ai làm ra,
mùi vị ngon dở thế nào,
dân dân,
thì trắng sao,
khỏi chết.
Bởi người ham linh có nhiều điểm tai hại chẳng nhỏ như còn cạnh tranh mà cạnh tranh là đầu mối của danh mà danh là một trong ba thứ trở ngại lớn của người tu giải thoát.
Khó tránh khỏi nẻo tà bởi bọn tà sư ngoại đạo thường dựa vào sự linh ứng mà phiến dụ ta hoặc bỏ tránh đạo mà theo chúng hoặc đem tiền bạc của cãi mà cúng dân cho họ.
Hơn nữa,
khi Thầy tổ gián bóng,
chúng sẽ làm một vài trò ảo thực trùy bí,
rồi đón chuyện nọ chuyện kia,
và tự xưng là Đức Thầy trở lại,
hoặc là đệ tử của Đức Thầy đã được Ngài sai về cú dân, độ thế,
dân dân.
Đã biết rõ chuyện đó nên Ngài đã từng khuyên dạy trước lúc ra đi.
Phật trời đâu dụng phép linh,
chỉ dùng đạo đức mặc tình ghét ưa.
Vậy ai là người muốn dược bể trầm lưng để trở về chân hạnh phúc?
Phải nên nắm chặt giáo lý của Tổ thầy lo trao tâm luyện tánh.
Không nên ham linh ứng bên ngoài mà phải nắm chặt yếu tố căn bản.
Mẫu chuyện tiếp theo
Tu Tiến chớ tu lùi
Lúc Đức Thầy ở Sài Gòn,
có bà Hai Huỳnh Thị Cưỡng và người em thứ tư là bà Huỳnh Thị Lĩnh ở Tồng Sơn.
ở Tòng Sơn.
Sau khi được quý y với Đức Thầy,
hai bà về nhà cố gắng lo tu thân hành thiện.
Hằng ngày thường xem sóm giảng của Đức Thầy
là một quyển kinh nhật tụng khi đọc đến câu
Chai bốn bữa ấy là quy tắc
của kẻ khùng chỉ dắt chúng sanh.
Thì hai bà bàn tán với nhau,
bà hai nói với bà Tư.
Dì Tư à,
Thầy bảo chai bốn bữa ấy là quy tắc
mà mình ăn 6 ngày lại ăn thêm 1 năm 3 tháng nữa
sợ e trái lời thầy có lỗi đó
bà tư nói
ờ tôi cũng nghĩ như vậy
nhưng từ khi chưa quý y
thì mình ăn theo truyền thống của cha mẹ theo thiền lắm
bây giờ đã quý y với đức thầy rồi
thì phải ăn lại 4 ngày
chứ ăn dư sợ có lỗi quá chị à
hai bà ngẫm nghĩ rồi nói
muốn biết rõ hơn
Chị em mình nên đi Sài Gòn trước thăm Đức Thầy,
sau nhờ Thầy dạy cho mình biết,
coi nên để ý hay là sửa lại.
Bàn tán xong,
vài ngày sau,
hai bà đi đến Sài Gòn.
Khi ra mắt Đức Thầy,
bà Tư lẻ miệng bạch rằng,
Bạch Thầy,
chị em con lên thăm Thầy,
và nhờ Thầy dạy cho chúng con biết một việc.
Nguyện trước khi chưa quý y với Thầy,
chị em con ăn chai theo thiền lâm,
một tháng sáu ngày với ba tháng tam nguôn.
Nai Thầy dạy ăn bốn ngày.
Vậy bây giờ chúng con ăn bớt lại hay là ăn luôn nhờ Thầy chỉ dạy.
Với nét mặt từ bi,
Đức Thầy miễn cười bảo.
Thỏ nhỏ,
cô đi học lớp mấy trước?
Dạ Bạch Thầy, đầu tiên thì con học lớp năm.
Rồi năm sau,
cô học lớp mấy?
Dạ năm sau thì con học lớp tư.
Mới thì học lớp 5,
sau lớp 4,
rồi đến lớp 3,
2,
1.
Nên nhớ là càng học phải càng lên,
chứ không ai học xuống bao giờ.
Sự tu cũng vậy.
Các cô ăn mỗi tháng 6 ngày,
1 năm 3 tháng là tốt lắm.
Có sao đổi ăn bớt lại.
Sở dĩ thầy dạy ăn chai bốn bữa đó là nguyên tắc đầu tiên của người sơ học.
Phải tùy trình độ của họ mà cho họ tập theo điều kiện tố thiểu.
Rồi khi trình độ giác ngộ khá thêm sẽ từ từ tiến.
Chứ chẳng lẽ ở một chỗ hoài sao.
Nên nhớ tu là phải tu lên chứ đừng có tu xuống nha.
Thuật theo lời của cô Lý Mỹ Phước,
con gái bà hai Quỳnh Thị Cưỡng
Phần nhận xét
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngày xưa khi hóa độ đệ tử
Trước tiên,
Ngài cũng dạy cho hàng đệ tử tại gia ăn chai mỗi tháng chỉ có hai ngày là mùng một và ngày rằm
Một hôm,
ông Cò Tào Hảo trong câu chuyện đàm lẫn với Đức Thầy,
ông nói
Tôi thấy pháp môn của Ngài dạy tu dạy thoát,
còn bên Tâm Kỳ người ta dạy tu tiên nhưng ăn chai trường rất nhiều,
còn Ngài dạy có bốn ngày sao dạy thoát được?
Đức Thầy trả lời,
Mình là người Đạo Phật rồi,
Sở dĩ tôi dạy tính đồ tôi ăn chai 4 ngày,
Đó là quy tắc,
tối thiểu là 4 ngày.
Khi họ nhận thức được rồi,
Họ sẽ tiến lên.
Còn nếu tôi bắt người ta ăn chai trường liền,
Thì người ta làm không nổi,
Vì bắt buộc sẽ không có kết quả.
Qua câu chuyện trên ta thấy,
Thế nhưng chúng ta thấy Đức Thầy cũng như Đức Phật
bao giờ cũng tùy duyên quá độ,
cũng như phương pháp tập bơi lội của đứa trẻ.
Khi nó chưa biết bơi,
nó cảm thấy sợ nước lắm,
nên mẹ phải dùng phao và theo sát bên nó.
Đôi khi nó còn không chịu lội nữa.
Nhưng đến lúc lội giỏi thì nó thấy ham thích,
dù không được mẹ bảo,
chúng vẫn đòi tắm,
bơi lội.
Chúng ta có phúc duyên được gặp chân lý siêu màu của Thầy Tổ nên cố gắng tu tiến chớ tu lùi.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Bài tà hiển chánh
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mảo năm 1939 Đức Thầy khai đạo tại Hòa Hảo.
Lúc ấy tôi chưa biết gia đình của Đức Ông và cũng chưa biết Đức Thầy.
Vì chú tôi là lời của ông Huỳnh Hữu Hạnh.
Gia quyến tôi trước kia thọ Pháp với một sư tên Hai Cung ở Mỹ Luôn cũng căn gốc của Đức Phật Thầy và Đức Cố Quảng.
Bỗng nhiên một hôm Đức Thầy gửi cho ông sư Cung hai quyển giảng,
quyển nhất và quyển nhì.
Ngày 9 tháng 4 năm kỷ Mảo,
người anh tôi có bệnh,
rước ông Hai Cung đến nhà.
Ông mang theo hai quyển giảng Đức Thầy gửi cho ông.
Nhân lúc trị bệnh cho anh tôi,
tôi đem ra đọc và giải nghĩa cho ông nghe.
Tôi đọc xong hai quyển giảng,
rõ được chân lý,
tâm hồn tôi vừa phục vừa kính mến Đức Thầy
và nghĩ rằng Đức Phật Thầy tái an tái sanh.
Liền khi ấy,
đêm mùa 9 tháng 11 năm kỷ Mảo,
tôi cầu nguyện cử quyền
Cầu nguyện cử quyền và xin phép ông sư cung để được đến ra mắt Đức Thầy.
Rạng ngày 10 tháng 11,
gặp dịp mai,
có người ở xóm đem vợ đến cho Đức Thầy trị bệnh.
Tôi liền quái gian đến tổ đình.
Lúc bấy giờ,
sáng ngày 11 tháng 11,
khi đến,
Thầy đang thuyết pháp,
Nguyện giảng thứ tư.
Thầy ngưng lại hỏi tôi.
Mới qua hả Hương Quảng?
Và Đức Thầy nói luôn những chuyện ông sư cung Thầy trước của tôi,
làm cho tôi sửng sốt.
Tôi nhận thấy Thầy là một đấng tiên tri.
Liền đó,
tôi xin phép Thầy để được chép quyển thứ tư,
tức quyển giác mê tâm kệ.
Khi đang chép,
Thầy tới lui coi tôi chép,
và Thầy dặn chép cho thật kỹ,
từ nét từ dấu,
đừng để trật dấu trật một chữ mất nghĩa một câu.
Đây là lần đầu tiên tôi đặt cả Đức tinh nơi lòng.
Qua ngày 12 tháng 11,
tôi trở về gia đình trình với cửa quyền cùng thân mẫu và yêu cầu ông sư cho phép tôi được quý y với Đức Thầy.
Được sự đồng ý của gia đình và sư cung,
tôi thỏa giáo quý y Thầy.
Đức Thầy biết tất cả hình thức gia đình tôi.
Thầy giải rằng.
Trước kia Hương Quảng còn mê,
nay tỉnh ngộ nghe lời Thầy dạy.
Bức trần điều mà Hương Quảng làm bằng thờ chư dĩ ở nhà cứ để y như vậy,
làm ngôi tâm bảo thờ Phật.
Bên hữu thờ bà Đỗ Mạng thì dẹp đi,
bên tả thờ ông Táo cũng dẹp luôn.
Thầy giải nghĩa.
Đúng là bà Cửu Thiên,
bà Chúa Tiên,
thời này mấy bà ấy đã giao hàng Phật rồi.
Vậy hương quảng về kiếm bông qua,
nước lã và cầu nguyện.
Giái như vậy,
hồi trước tôi còn mê nên thờ vậy.
Nay tôi huy y theo Thầy,
Thầy tôi dạy.
Nếu thật là bà Cửu Thiên quyền nữ,
thì chứng minh cho tôi thỉnh về ngôi Tam Bảo,
Thờ chung với Phật
để tôi sùng bái.
Còn ai ở đây hưởng đồ cúng kiến xin đi chỗ khác mà kiếm ăn.
Từ đây tôi không còn cúng kiến nữa.
Trang âm táo cũng giái như vậy rồi dẹp luôn.
Tôi dân lời làm y theo lời Thầy dạy.
Và từ đó tôi thường lui tới thăm giếng Đức Thầy.
Đến ngày 10 tháng 12 năm Kỷ Mảo
tôi đến giếng Thầy nối 7-8 giờ sáng.
Ngày đó làng Hòa Hảo cúng cầu an tại đình thần.
Đức Thầy đứng dưới mé sông trước tổ đình.
Bỗng Thầy đi thẳng lên bước vào nhà.
Thầy cười và nói.
Thật tức cười các ông hương chức hội tề làng Hòa Hảo hết sức.
Đức ông hỏi.
Cười gì vậy Thầy Tư?
Đức Thầy chỉ xuống đình và nói.
Ông cả không thấy sao.
Mười hai hương chức hội tề xúm nhau đâm hỏng con heo.
đem ngay trước bàn thành rồi ráp nhau bằng áo dài bịch khăn đóng.
Lại con heo mà đền tổ sát sanh chưa rồi,
chứ thần nào trứng mà ăn?
Lúc đó tôi có đứa con thứ ba năm đó đúng 12 tuổi.
Tôi có ký bán cho ông Táo một con heo,
đúng 12 tuổi sẽ cúng.
Tôi đã nuôi sẵn một con heo,
định đến ngày 25 tháng Chạp năm Mẹo
đúng lời giái sẽ cúng trả lễ.
Tôi đem chuyện ấy bạch với Thầy.
Thầy cười và nói rằng
Phật táo ngài làm việc với Đức Ngọc Đế
chứ không ở dưới Trần Giang nuôi con
cho chúng sanh đặng ăn thịt heo.
Hương quảng hai đem bán con heo đó
lấy tiền chi tiêu trong gia đình
và tránh tội sát sanh.
Nếu ai đòi thì nói Thầy không cho cúng.
Có gì Thầy lãnh hết cho.
Và Thầy dạy thêm Thầy dạy thêm.
Không nên cúng hạng cúng căng gì hết,
Chỉ cúng cử quyền thất tổ mà thôi.
Nhờ ân đức quay linh của tổ thầy,
Gia đình tôi từ lúc theo thầy học đạo cho đến nay,
Ba mươi năm khỏi tốn hao cúng kiến chè xôi,
Và gia quyến cũng không bệnh quạng đau ốm chi cả.
Từ đó cứ mười bữa nửa tháng là tôi đến viếng thăm thầy.
Về việc niệm Phật,
tôi bạch trước thầy, được thầy dạy.
Tử lục tử trì tâm bất diện
Dạ nhưng còn khi đi tiểu ở trần có niệm được chăng?
Đức Thầy cười và nói rằng
Hương quảng đi tiểu đi cầu vẫn niệm được
Đó là hương quảng tưởng Phật
Chứ không phải hương quảng rũ Phật đến đâu mà lỗi
Ngoại trừ khi gần gũi vợ chồng thì niệm không được
Thuật theo lời ông Huỳnh hữu hạnh
Phần nhận xét
Những thầy dạy ông Huỳnh Hữu Hạnh,
Tức Hương Quảng Chiến,
nên dẹp sự thờ cúng lễ mệ theo lối dị đoan,
mà cũng là lời khuyến cáo chung cả hàng môn đệ.
Hay nói một cách khác là một tiếng chuông đánh thức kẻ mê mờ chưa hiểu rõ chân lý.
Còn những hạng ăn đồ cúng kiến mà làm hết bệnh là tà thần.
là thần.
Nếu ta cúng kiếm mãi,
chúng ăn quen sẽ nhiễu hại chúng ta.
Tiếp theo đây là Mẫu Chuyện
Trái Bí Đao
Năm Kỷ Mảo,
1939,
tại Cù Lao Ba,
xã Vĩnh Trường, quận An Phú, Châu Đốc.
Có một ông tên Hai Tạo,
ông có người vợ tên là Nguân,
thọ bệnh rất nặng,
đã điều trị nhiều thầy mà không thuyên giảm,
cả bác sĩ cũng chạy luôn.
Lúc ấy,
cô Năm Công là người ở cùng xóm,
mới chỉ cho ông biết rằng ở Hòa Hảo có ông Tư trị bệnh hay lắm,
nên chở bà Hai xuống đó mai ra đặng mạnh chăng.
Nghe lời Năm Công,
ông Tạo cùng con gái là cô Theu và bà Thái Thị Quy tự là hai giáo,
là cháu gọi hai Tạo bằng chú,
chở bà Hai Tạo ra đi.
Khi đến tổ đình,
ông Tạo liền lên ra mắt và nhờ Đức Thầy cứu độ vợ ông.
Đức Thầy bảo,
ông xuống sông,
múc xuôi theo dòng nước cho bệnh nhân uống,
rồi Đức Thầy buộc dây chuối cả tay lẫn chân cho người bệnh,
thì bệnh nhân được thuyên giảm đôi phần.
Ngài còn bảo thêm,
Nếu muốn bệnh nhân mau hết,
thì hãy đem ba món đồ hiện có nơi đây liền bỏ xuống sông,
thì bệnh sẽ hoàn toàn chức hẳn.
Lúc ấy Đức Thầy nhìn ngay cô Theo,
vì cô ấy có đeo ba món đồ là
một sợi dây chuyền,
một chiếc dòng và một cái khâu thải đều bằng đồng cả.
Sông vào thời ấy rất có giá trị.
Vì thấy cô Thiêu tiếc của còn mãi trần trờ nên bà hai giáo khuyên cô nên vì chữ hiếu mà làm cho mẹ sốn bình phục.
Cô Thiêu liền mở ba món đồ ném xuống sông.
Khi ra về Đức Thầy bảo thêm.
Một trái bí đao,
một ít đường phèn,
nước mưa.
Nấu cho bệnh nhân uống sẽ mau bệnh phục.
Trên đường về từ sông Tiền tới sông Hậu,
Dượt qua nước xoáy dàm đao hướng châu Đốc,
Chừng dài mươi thước,
bà hai bơi mũi,
Trông thấy một trái bí đao trôi trên mặt nước,
Liền dất lên nhưng bị trợt đi.
Cô theo phía sau dất được,
Và để sau chót lái xuồng.
Khi về đến nhà,
mọi người phân chia công việc,
Kẻ kiếm nước mưa,
người kiếm đường phèn,
Còn cô Thêu lo xẻ gọt trái bí đao.
Khi xẻ trái bí đao ra,
cô Thêu xanh mặn,
Vì ba món đồ cô đã liện xuống sông Hòa Hảo,
Nai lại nằm trong ruột trái bí đao.
Lúc ấy,
mọi người nghe chuyện Đều ngạc nhiên kính phục sự quyền dịu của Đức Thầy.
Còn bệnh nhân sau khi đã uống thuốc xong,
Ngủ mộng nhất,
khi tỉnh dậy,
Thì trong mình đã bình phục hoàn toàn.
Nhờ cảm kích ơn đức của Đức Thầy đã cứu bệnh và khâm phục dịu dụng thần thông cùng lời thuyết pháp dư dịu thẩm thâm của Đức Thầy,
nên bà hai giáo âm thầm phát nguyện quý y theo Phật.
Sau đó,
bà có thỉnh được quyển sám giảng của Đức Thầy,
nên bà quan hỷ đem giới thiệu cho chú của bà là ông hai.
Dốn sẵn lòng cảm kính,
nên khi đọc qua quyển sám giảng,
Cả gia đình ông Tạo đều công nhận Đức Thầy là một vị Phật sống tại thế.
Do đó cả gia đình ông cùng một số thân thủa khác đồng nguyện quý y theo Phật cả hình thức lẫn tinh thần.
Mẫu chuyện này do bà Hai Giáo là người trong cuộc kể lại.
Lúc trước bà ở Cù Lao Ba hiện nay bà cứ ngủ tại ấp Long Châu Một xã Thạnh Mỹ Tây.
Phần nhận xét
Câu chuyện này cũng như nhiều câu chuyện khác,
mục đích chính của Đức Thầy là dạy đạo để cứu đời.
Nhưng đối với kẻ ít khăn lành,
Ngài cũng phải dùng phép nhất quán lợi hành để độ họ.
Chớ không dùng quyền diệu của tiên gia mà độ bệnh,
thì họ sẽ không có dịp cảm kính Đức Ân,
cũng đâu có dịp được thắm nhường Pháp Vũ.
Dợ ông Tạo được mạnh tuy là quý,
nhưng đâu bằng cái quý của người đã gặp được Phật Pháp và khoác nguyện quý y tu tập.
Cú bệnh chỉ là giải pháp cú khổ nhất thời,
còn tu hành thì mới giải được cái khổ triền miên.
Đức Thầy đã ra đời như dần Thái Dương,
rồi tan sương mù.
Dù đối với kẻ động căng hay lợi trí,
đều được nhường gọi Đức Ân.
Thật phúc duyên thay cho những ai là người sánh vào đời mạc hạ mà được gặp giáo pháp của Tổ Thầy.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo
Rủa Con
Ở Phú Thuận có hai vợ chồng người nọ đem một người con gái lối 18 tuổi đến nhờ Đức Thầy trị bệnh.
Thầy dòng người con gái rồi nói
Tại sao lại hại người ta như thế?
Người con gái trông rất lanh lợi, trả lời
Cha mẹ tôi gã vợ cho tôi lâu lắm rồi kia mà
Chứ nào phải là tôi dám làm ngang
Đức Thầy nói với cha mẹ người con gái
Tại bà tất cả
Lúc con bà mới 7 tuổi Bà có rũa,
đồ hà bá *
Cho nên thần hà bá dưới sông Nga Vĩ
Mới nhập vào con bà từ đó cho đến bây giờ
Sự việc này làm cho bà chân hững vì con bà cũng bắt đầu xanh mét từ đó đến giờ.
Đức Thầy khuyên bà từ nay trở về sau chẳng nên rũa con nữa nên đem lời hiền lành mà giáo hóa.
Rồi Ngài quay sang đứa con gái nói
Thôi người ta đã ăn năn rồi ngươi phải trở về chỗ cũ từ nay đừng làm chuyện sằng bậy nữa.
Vừa nói,
ngài vừa ngắm nước phun vào mặt,
tức thì cô này té xỉu.
Dây lâu tỉnh lại,
và nói chuyện tỉnh táo như thường.
Cha mẹ người này cảm ơn rối rích.
Đức Thầy khuyên.
Ông bà nên ăn chai,
niệm Phật,
làm lành.
Thuật theo lời cô tu sĩ Võ Thị Đồng.
Phần nhận xét
Nhiều người không rõ tai hại của khẩu nghiệp,
Nên mỗi khi tức giận thì họ kêu mời cõi âm mà trù rũa.
Người phụ nữ trên đây cũng ở vào trường hợp đó.
Nhưng đến khi đau ấm thì khóc than khẩn giái cúng kiến tà ma.
Vì thấy chúng sanh lầm lạc như thế nên Đức Giáo Chủ từ bi dạy.
Khổ lao đà sắp đến nơi,
thề gian bất miệng kêu mời cõi âm.
Từ khi nghe được những lời từ quấn của Ngài,
người ta mới biết được tai hại của khẩu nghiệp mà chừa bỏ rất nhiều.
Câu chuyện trên đây cho ta thấy rõ,
người không biết giữ gìn khẩu nghiệp
thường buôn lời nói ác,
Hoặc kêu mời cõi âm mà khiến sai,
mời thỉnh,
chẳng những mang tội ác khẩu còn gặp lắm tai quả cho gia đình mình,
Chừng đó mới hối tiếc khóc thang,
thì ôi thôi đã muộn.
Ta hãy nghe lời từ quấn của Đức Tôn Sư.
Lửa lời tiếng dịu dàng trống sạch,
khi thốt ra đoán chánh hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
bằng tích ác quả ương đeo đắm.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Đi tìm Phật
Năm 1966 tôi được thủ quấn khóa đào tạo giảng viên truyền bá giáo lý trung ương tại Thánh địa Hòa Hảo bỏng được tin cô ký giỏi về giếng tổ đình.
Ghi chú tôi là lời tu sĩ võ thị đồng.
Vốn sẵn tánh hiếu kì,
tôi muốn được biết cô Ký,
vì tôi nghĩ cô chắc có nhiều duyên phước lớn mới được theo hầu Đức Thầy và được Ngài Quang Lâm đến ngủ tại nhà cô trong thời gian truyền đạo,
và nhất là muốn được nghe cô kể chuyện bên Thầy mà lúc nào tôi cũng khao khát được nghe.
Ý đã quyết định nên chiều hôm ấy tôi rủ vài bạn khóa nữ sinh cùng đi và định nghỉ đêm tại tổ đình cùng cô ký để nghe cô kể chuyện.
Khi đến nơi chúng tôi chào hỏi,
cô cháu được biết nhau trong bầu không khí vui tươi,
tôi nói,
Thưa cô hai,
chúng con từ trước đến nay nghe tiếng cô nhưng chưa gặp mặt,
hôm nay mới được biết cô.
Thưa cô,
chúng cháu là kẻ sanh sao nở mụ,
rất khao khát được viết những mẫu chuyện chung quanh Đức Thầy mà cô là người có nhiều duyên phước được hầu Thầy.
Vậy tối nay chúng cháu sinh ở đây một đêm,
nhờ cô kể cho chúng cháu được nghe nhiều mẫu chuyện suốt thời gian cô được theo Thầy."
Cô ký tươi cười đáp,
"- Ờ được,
mấy cháu ở đây đi,
cô kể hoài cũng được nữa."
Tưởng gì,
chứ kể chuyện bên Thầy cô sẵn sàng lắm.
Thế là sau thời cuốn tối,
tôi bắt đầu đặt câu hỏi với cô hai,
giống như một nhà phóng viên tìm tin tức cho báo chí.
Mở đầu câu chuyện, tôi hỏi,
Thưa cô hai,
chúng cháu muốn biết nguyên nhân gì cô ở Bạc Liêu mà sớm gặp Đức Thầy để quý y dậy?
Cô cười nói,
Ờ,
để cô kể cho cháu nghe,
kì diệu lắm cháu à,
đâu phải khi không mà cô được gặp thầy mà quý y đâu.
Cháu biết không,
cô là dân Tây mà,
đâu có phải dễ tin Phật Pháp mà tu.
Một bữa nọ,
cô nằm mộng,
thấy cha cô về,
rầy cô, và nói,
và nói,
Phật đã xuống thế rồi,
mà sao con không chịu tu?
Nè,
cha cho con biết,
nếu cứ mãi mê danh lợi,
thì sao khổ đừng than trách,
ăn năng cũng chẳng kịp nghe con.
Phật xuống thế kỳ này là cơ tận việc,
nếu không tu thì dĩ nhiễn chịu đòa nghe con.
Nếu không tu là đại bất hiếu nghe con.
Cô bị cha rầy quá tai,
cô khóc nứt nở và nói,
Thưa cha,
cô biết Phật ở đâu mà tìm?
ở đâu mà tìm,
tu làm sao mà tố?"
Cha cô nói,
Con đi theo cha,
sẽ gặp Phật.
Thế là cô đi theo cha cô
đến một cảnh giới xinh đẹp,
nhất là có một hồ sen rất to,
dưới hồ có nhiều hoa đua nở.
Chính giữa hồ có một hoa sen thật lớn,
có hào quang sáng rực.
Lại có một người tướng mạo xinh đẹp
đứng trên đó.
Cha cô nói,
Này,
con hãy nhìn cho kỹ,
Vị đang đứng tại qua sen lớn đó là vị Phật đã gián thế tại Việt Nam rồi đó con.
Con nhớ tìm cho được vị này mà quý y,
nhìn kỹ nghe con."
Cô dạ dạ và chăm chú nhìn từ đầu tới chân.
Khi tỉnh giấc,
cô rờ gối thì biết mình đã khóc ướt gối.
Cô kể lại cho ông Ký nghe và xin ông để cô đi tìm Phật.
Dốn sẵn có duyên lành nên ông Ký chấp thuận.
Thế là sáng ra,
cô kêu tài xế lái xe chở cô đi tìm Phật.
Cô nghĩ,
chắc Phật thì ở trên núi.
Thôi,
mình đi cạnh núi,
con đường đi từ Bạc Liêu dài lên.
Đi tới đâu,
cô cũng khỏi thăm,
chỗ nào có vị linh thính hoặc kỳ hạnh,
cô đều đến gặp mặt,
coi có phải là vị Phật mình được thấy trong mơ không.
Trải ba ngày, cô đi tới Châu Đốc.
Có người chỉ,
ở Tân Châu có ông đạo linh lắm.
Cô không đi núi,
liền cho xe đi thẳng về Tân Châu.
Khi đến nơi,
gặp ông Đạo đó,
cũng không phải,
lòng cô buồn bã lắm.
Hỏi thăm thì người ta chỉ,
ở Hòa Hảo có ông Đạo còn trẻ,
mà sáng suốt và có nhiều điểm đặc biệt thoát tục.
Nghe đến ông Đạo này,
cô thấy lòng mừng khắp khởi
và nông nao đi tìm coi có phải không.
Ghé chợ mua ít trái cây rồi đi thẳng tới Hòa Hảo.
Khi xe gần tới tổ đình,
khiến cô không ngồi yên,
như mình sắp gặp cha mẹ chết đi sống lại vậy.
Gần tới chợ Mỹ Luôn,
là cô ngồi ló đầu ra ngoài để tìm kiếm.
Có lẽ Đức Thầy đã biết,
nên ngài ra đứng tại cửa ngõ,
đưa mắt nhìn ra đường.
Bỗng,
cô hô lên cho xe ngừng lại,
vì đã gặp Đức Thầy,
người mà cô đã nhìn thấy đứng trên qua sen trong mộng.
Cô bước xuống xe làm lễ Thầy,
được Thầy nghiêng mình đáp lễ.
Lén nhìn Thầy từ đầu đến chân,
quả đúng rồi,
dĩ Phật mà mấy ngày qua cô hàng tìm kiếm.
Bỗng cô khóc nứt nở,
dù ráng kèm cũng không được.
Cô khóc thật lớn,
và tấm tức tấm tửi,
làm cho chú tài xế và mấy người chung quanh chẳng biết là sự gì.
Biết mình là vợ một thầy ký mà khóc om sòm như con nít thì cũng quá kì,
nhưng không làm sao nính được.
Cô phải ôm mặt,
chạy tuốt vào nhà bếp,
nhưng vẫn khóc,
càng khóc lớn hơn nữa.
Đến nỗi bà cô,
nội tổ của Đức Thầy ở nhà trên cũng nghe,
nên bà hỏi,
Ai làm gì mà khóc dữ quá vậy?
Đức Thầy cười nói,
Cháu ông lừa.
Rồi Đức Thầy bước xuống nói tiếp.
Thôi chứ,
khóc hoài sao.
Các con ơi,
tự nhiên cái cô nín dứt như kẹ,
liền đi rửa mặt và ở lại đây mấy ngày để nghe Pháp và quy y.
Thuật theo lời cô Tu Sĩ, võ Thị Đồng.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Cùng một sự ăn.
Lúc Đức Thầy đang lưu trú tại nơi tư gia ông Võ Mậu Thạnh,
xã Nhân Nghĩa, Cần Thơ,
có ông Sáu Duyên một tính đồ từ Long Xuyên đến viến thăm Đức Thầy.
Tiện việc, ông Duyên bạch hỏi Thầy về sự ăn uống của người tu ra sao.
Đức Thầy bèn giảng cho ông Duyên nghe.
Sự ăn uống là giúp cho cơ thể khỏe mạnh hầu thi hành việc đạo nghĩa.
Thân xác,
ví dụ như chiếc xe.
Cơm là săn,
vật thật là nhớt.
Xe có săn có nhớt thì xe chạy mới được.
Xe chạy bằng săn nhớt.
Nếu ai nói rượu là quý mà đem đổ vào xe thì xe chết mãi.
Ông nên nhớ rằng ăn để mà sống,
Chớ không phải sống để mà ăn.
Và người Tôn không nên chấp thức ăn ngon dở,
Nhiều ít,
hoặc chú tâm đến các thức ăn trước khi dùng.
Nghe được lời Thánh Quấn ấy,
Ông Duyên rất vui mừng cởi mở
Và ghi nhớ mãi trong tâm tư.
Thuộc theo lời ông Sáu Duyên
Lời nhận xét
Lời dạy sáng suốt của Đức Thầy như một quấn từ của bà mẹ thân yêu.
Đối với giáo lý của nhà Phật
thì cái ăn là một trong năm món dục lạc,
chứng ngại cho kẻ tu hành,
nếu không biết điều phục nó.
Xưa nay,
người được coi là tu hành chân chính thì lúc nào họ cũng không quan trọng món ăn mà luôn dình lòng dị tha hỷ xã.
Xưa tôn giả ca chuyên viên chỉ dùng phương cách ăn uống của Ngài mà quá độ được ác sanh dương là một ông vua đầy gian ác.
Ai có từng theo chân Đức Thầy trong thời gian dân du quá chúng đều nhận thấy ở nơi Ngài rất đầy đủ đức độ qua sự ăn uống.
Chẳng những ngài không chú trọng mặt đẹp ăn ngon,
Lại còn vì chúng sanh mà bán tình thương cho các lòi vật nhỏ.
Và câu nói của Đức Thầy
Ăn để mà sống,
Chớ không phải sống để mà ăn.
Mẫu Chuyện Tiếp Theo
Thầy chứng sự quý y
Ông trưởng bang phổ thông giáo lý tỉnh Phong Vinh
có nhắc mộ chuyện của ông Bảy ở Sà-no như sao?
Số là ông Bảy này có cất nhà ở giữa đồng để làm ruộng,
thường xem sắm giảng của Đức Thầy để tu huyền.
Ông Lập Ngô-Tam-Bảo dạ bàn thông thiên,
khấn nguyện nhờ Đức Thầy chứng giám,
nhưng chỉ tự âm thầm quy y một mình,
chứ không có mặt Đức Thầy ở đó.
Ông tự khép mình vào hàng tính đồ Phật giáo,
ăn chai, giữ giới,
cúng lại,
theo lời Đức Thầy chỉ dạy.
Đến tháng 6 âm lịch,
Đức Thầy về Cần Thơ khuyến Nông.
Ông Bảy đến xin Đức Thầy cho Quy Y.
Ông Bảy sắp trình thưa công việc,
thì bỏng Đức Thầy điểm mặt ông Bảy và nói,
"- Ủa?
Ông đã Quy Y vào lúc 12h trưa tháng Diêng hôm trước tại nhà ông Roma.
Tôi đã chứng kiến một lần cho ông rồi.
Còn quý y gì nữa?
Quý y một lần thôi chứ.
Ông Bảy hết hồn mà trong lòng đầy khâm phục.
Phần nhận xét
Tâm lý chung của con người thì khi họ ân cần mong muốn một điều gì hoặc gian sinh với ai
thì họ rất sợ không được người đó chấp thuận.
Nếu được sự chứng hứa một điều nào quan trọng
thì họ thường lặp lại đôi lần để cho người kia đừng quên.
Thế nên,
ông Bải tuy đã âm thầm phát nguyện quý y,
nhưng vẫn còn lo ngại không biết sự phát nguyện của mình có được Thầy chứng không.
Dốn là một bậc đại giác thì làm gì chẳng rõ được tâm niệm của chúng sanh.
Thế nên,
không để cho đệ tử thắc mắc lo âu,
Mấy người bê thể chậm chân tới Thầy,
nghe theo lời chỉ sau đây,
lãnh bài cầu nguyện về rại Mạ-tu.
bài cầu nguyện mà tu nhưng vẫn được như đã gặp Ngài.
Bởi vì tuy là hữu ảnh vô hình,
chớ dân lòng tưởng,
sân trình đáo lai.
Bởi Phật chỉ dùng chữ tính thành khi được sống bên cạnh Thầy mà không sửa tánh răng lòng,
thì sao bằng người ở xa ngàn dặm mà ngoan đạo tiếng tu.
Xưa,
lúc Phật còn trụ thế,
lúc Ngài đi thuyết Pháp ba tháng ở Thiên Cung mới trở về,
các đệ tử đua nhau ý kiến Ngài.
Tì Kheo Ni liên hoa sắc đến cuối đầu lễ sát chân Phật mà Bạch.
Bạch Đức Thế Tôn,
đệ tử liên hoa sắc người đã đến ý kiến Phật trước nhất,
để lại mừng Ngài từ Thiên Cung vừa mới về tỉnh xác.
Đức Phật từ bi đáp
Liên qua sắc,
con không phải là người đến ý kiến như lai trước nhất đâu
Tì kheo ni liên qua sắc nhìn đi nhìn lại chung quanh
Chưa ai đến trước mình
Bà nói Bạch rằng
Bạch Đức Thế Tôn chớ gì nào đến trước con sao con không thấy
Đức Phật ôn tồn đáp
Chính Tôn Giả Tu Bồ-đề là người đến giếng như lai trước nhất.
Tuy ông chưa đến bằng hình thể,
Chớ tâm ông đang hướng về làm lễ như lai trước hơn các môn đề khác.
Vậy chúng ta là người trí,
Không nên lo sợ là thầy mình không biết rõ việc làm của mình,
Mà phải sợ mình không sáng suốt,
Và đủ nghĩ lực để bỏ những thối hư tật xấu của mình.
Và cũng đừng nên lo tìm hiểu cái quấy dở của kẻ khác mà phê phán.
Khách quan can đảm và nhận xét bại trừ cái quấy dở của mình,
vì lúc nào bên mình cũng có.
Lưỡng thần ghi chép liên miên,
nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Hơn nữa,
đối với Đức Thầy thì
Cặp mắt Thánh dồm xem Tứ Hải
Thương hồng trần mượn sát tái sanh
Mẫu chuyện tiếp theo
Tu Oanh và Tu Tắc
Ông Hai Quê và ông Ba Ngà là hai trong những người mộ đạo
Đã chèo thuyền từ Phú An Tân Châu đến Nhơn Nghĩa để thăm Thầy
Trên đường đi,
hai ông đã đồng ý với nhau là khi đến nơi,
Ông Ngà sẽ xin phép Đức Thầy cho ông được ở lại để hầu hạ Ngài,
Còn ông quê sẽ chèo ghé về một mình.
Khi đến nhà ông Hương Bộ Thạnh,
nơi Đức Thầy tạm trú,
Sau 24 giờ thăm giếng và nghe lời quấn vũ,
Ông Ba Ngà trình với Đức Thầy ý định ở lại hầu hạ Ngài.
Đức Thầy không nói gì,
Đôi mắt tự bi,
nhìn ông Ngà dễ dẻ cảm động.
Rồi Ngài đi thẳng vào phòng.
Lát sau trở ra,
Ngài trao cho ông Ngà bảy đồng bạc và nói
Ông muốn tu thì về cất cái khóc ở sau nhà mà tu.
Và đây là bảy đồng bạc.
Ông hãy cầm lấy đi đường.
Ông Ngà do dự không muốn lấy, thua rằng.
Con đi ghe không tốn tiền.
Đức Thầy bảo
Thầy cho,
thầy phải nhận rồi sẽ rõ.
Khi về đến tổ đình Hòa Hảo,
thì ông Ba Ngà lâm mịnh.
Ông Hai Quê phải chèo một mình về Phú An báo cho thân thuộc ông Ngà hay.
Hôm sau,
ông Ngà được người nhà mướn xe ngựa đến tổ đình chở về nhà.
Đúng bảy ngày,
từ hôm giả biệt đức thầy,
thì ông Ngà bỏ sát.
Mộ phần trông cất phía sau nhà của ông,
dưới một tức nhà mồ theo tục lệ hồi đó,
Cất để che mưa che nắng cho người chết.
Chính hôm sau nữa,
ông Hai Quê đến xà no để báo tin cho Đức Thầy hay.
Nhưng ông chưa kịp nói,
thì Đức Thầy đã bảo
Kiếp sống của Ba Ngà chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Ông Hai Quê thật thà bạch với Đức Thầy rằng
Không biết ông Ngà chết như vậy mà linh hồn có được an ổn để tu hành không?
Đức Thầy đáp
Thầy đã đổ cho ông Ngà,
nhưng đó chỉ là tu quanh.
Vì ông Ngà mới vừa viết đạo,
thì liền bỏ sát.
Ông Hai Quê liền hỏi tới,
Bạch thầy còn thế nào là tu tắc?
Đức thầy giảng cho ông Hai Quê nghe.
Nếu còn sát thịt,
tức là còn sống.
Vừa lo làm ăn,
vừa lo tu hiền,
để tự mình sửa mình.
Độ người khiến họ giữa mình đồng tu thì đó là tu tắc.
Ông Hai quê lãnh hội được tâm pháp của Đức Thầy.
Từ đó ông vừa làm để sống vừa nỗ lực hoàn pháp hành thiện.
Thuộc theo lời của ông Nguyễn Văn Đô
Phần nhận xét
Ông Ba Ngà là một môn đồ có duyên với Đức Thầy nên mới được gặp Thầy và sớm quý y.
Tuy rất thương đệ tử,
nhưng Thầy chỉ cho bảy đồng bạc để báo cho ông biết là ông chỉ sống có bảy ngày nữa mà thôi.
Thầy cho biết,
Ngài đã đổ linh hồn ông,
nhưng đó là tu quanh.
Vì người chết chỉ tu bằng tâm linh,
nên không thể làm được việc lợi tha như người có thể sát.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Theo Thầy hay theo giáo lý?
Thời gian đi khắp đó đây để quá chúng độ tha,
Những lời thuyết Pháp di dịu thậm thâm của Đức Thầy đã đánh thức biết bao triệu con tiên trở về nguồn giác.
Khác nào ánh Thái Dương rọi tan đám sương mù.
Họ hân quan vì được đếm cam dị của suối Ma-Ha nên rất hăng sai theo góc chân Thầy để có dịp được thêm thấm nhường Pháp Vũ.
Một hôm sau buổi thuyết pháp,
Bọng Ngài đưa Quyển Giảng lên hỏi lớn rằng
Tất cả bộn đạo theo Thầy,
hay theo giáo lý của Thầy?
Tất cả đồng loạt đưa tay lên và đồng thanh ứng
Con theo Thầy, con theo Thầy
Đức Thầy để Quyển Giảng xuống,
nét mặt từ bi,
nhìn khắp các đệ tử rồi bảo
Bà con theo Thầy,
đến khi Thầy vắng mặt rồi theo ai?
Phải theo giáo lý của Thầy mới đúng chứ?
Tất cả những người có mặt đây đây,
vừa được nghe câu kim ngôn của Ngài như một tiếng chuông cảnh tỉnh.
Họ đều cuối đầu lãnh giáo ngọc ngữ của đấng cha lành.
Thuộc theo lời ông cựu hội trưởng quận Thốt Nốt.
quận Thốt Nốt.
Phần nhận xét
Đức Thích Ca Mâu Ni xưa ra đời trụ thế chỉ có 49 năm,
mà chánh pháp của Ngài đến nay,
trên 25 thế kỷ,
vẫn còn chói rạng bốn phương.
Thật vậy,
chánh pháp là chân lý,
mà chân lý là lẻ thật,
thì lẻ thật làm sao mất được?
Bởi Đức Thầy Tiên Tri là Ngài sẽ xa cách Ấn Độ,
Và thời gian xa khách đó là một trận thử thách quá gây go,
nên hành giả phải nắm chặt giáo lý siêu thượng của Ngài,
cũng như người đi biển phải có la bàn vậy.
Nếu không,
họ phải chịu lạc lỏng bơ dơ giữa bao la trời nước,
lại gặp sóng to,
chắc phải làm mòi cho lũ cá.
Cũng thế,
người tu tự xưng mình là tính đồ Phật giáo hòa hảo mà không nắm dững giáo lý của Ngài sẽ dễ bị sai đường, lạc lối.
Dù người rất có tâm thành giới đạo,
bởi có tâm giới đạo mà thiếu trí,
nên khi Thầy Tổ dắn bóng thì dễ bị kẻ giả trá,
bà mị lợi dùng.
Họ nhân cơ hội này mà xưng là tiên Phật
hoặc là Thầy Tổ trở lại.
Các đạo tà mưu khéo âm thầm
Dần ráng tránh kẻo lâm mà khổ
Chụng nó xuôn khuyên răng nhiều chỗ
Dùng phép màu lè mắt trung sâm
Ai ham linh theo nó tập tành,
xa cạm bẫy hoa mong song sót.
Sau đây là mẫu chuyện kế tiếp.
Quy y thì phải làm y.
Năm Canh Thình,
một ngàn chính trăm bốn mươi,
một ngày đẹp trời,
quần chúng đến ý kiến Đức Thầy rất đông.
Họ sắp hàng nhau,
kẻ đứng người ngồi,
tụ hộp trước tổ đình để nghe Đức Thầy thuyết pháp.
Lời của Đức Thầy trong sáng hấp dẫn lạ thường.
Bỗng một đoàn phụ nữ,
khoảng hai mươi người từ ngoài tiếng dào,
giái chào Đức Thầy rồi xếp hàng chen vào đám đông này.
Đức Thầy hỏi,
-"Các bà từ xa đến đây hẳn là mộ đạo và chắc có quy y."
Một bà đứng tuổi cuối đầu nhỏ nhẹ thưa.
Bạch Thầy chúng con đã quý y đầu Phật,
mong theo Phật để tu hành.
Đức Thầy đáp
Được lắm,
biết Đạo là quý,
nhưng từ trước đến nay,
phần đông quý y là chỉ để quý y chứ không làm theo.
Bây giờ quý y thì phải làm y.
Mấy bà nên sửa mình,
trao tâm và niệm Phật.
Rồi Thầy nói thêm.
Việc niệm Phật phải cho bền,
đi đứng,
nằm ngồi đều tưởng niệm không quên.
Bữa củi,
giả gạo,
xách nước,
nấu cơm đều niệm sáu chữ di đà.
Thuật theo Đúc Tự Bi.
Phần nhận xét
Hai chữ quý y đã có từ thế kỷ thứ sáu
và người quý y từ xưa đến nay không thể đếm cho hết được.
Nhưng phần đông người ta thường quý y rồi cứ để y chớ không hề cãi sửa.
Để ý thức chung cho tất cả mọi người,
Ngài nói với mấy bà tính nữ như trên
Cốt để cho chúng ta biết sự tu hành là do ở chỗ trao tâm sửa tánh và chuyên nhất niệm Phật.
Ngài dạy
Nam-ô-a-di-đà-phật
Sáu chữ đi đứng nằm ngồi ráng niệm chớ quên không đỡ gì thời khắc
Dạ!
Ráng trì tâm tượng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp,
Việc biên chuyển thiên cơ rất gấp,
Khuyên trung sanh hải sang tu hành,
Cầu linh hồn cho được dạng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Nếu quy y mà cứ để y thì dù có trải qua vô lượng kiếp cũng chẳng được thành.
Bởi muốn cho tính đồ biết được ý nghĩa của chữ quy y mà nhất tâm trao sửa nên Ngài đã viết ở đoạn khác như sau.
Quy y đầu Phật
là nương nhờ của Phật
và làm y theo lời Phật dạy.
Phật từ thiện cách nào ta phải từ thiện theo cách ấy.
Phật tu cách nào đắc đạo dạy ta ta cũng làm theo cách ấy.
Thầy cảnh tĩnh giác ngộ điều gì chánh đáng thì khá dân lời.
Cần nhất ở chỗ,
giữ giới luật hàng ngày.
Nam Mô Bộn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ôi những lời nói của Đức Thầy như vẫn còn gian dầm đâu đây.
Chúng con vẫn hằng mong ngày Thầy trở lại.
Để chúng con được tắm mình trong tình thương bao la, Cao la,
chan chứa ân lành của chư Phật trong mười phương thế giới.
Xin tạm biệt quý vị và kính chúc quý vị
đạo quả duyên dung trong hồng ân di dịu của Phật Pháp.
Namo Adi Da Phật.
chương trình Những Mẫu Chuyện Bên Thầy phần tiếp theo
Do nghệ sĩ Thanh Kim Huệ,
Thanh Điền và đồng đạo Thiện Nghĩa thực hiện
Xin gửi đến quý vị lời chào thân ái
Và cầu mong ơn trên Tam Bảo Hộ Trì
Cho quý vị được hưởng trọn dạng phúc duyên
Trong tình thương đại đồng của Đức Phật
Nam-mô-a-di-đà-phật
Dạy Đạo Cứu Đời
ở xã Long Kiến,
cùng một số tính đồ từ Long Xuyên,
Châu Đốc đến Diến Đức Thầy.
Suốt ngày,
người ta kéo đến nhờ Đức Thầy trị bệnh không ngớt.
Sau đó,
Ngài đem lời Đạo Lý ra bài giải,
khuyến khích mọi người lo tu hành
để thoát khỏi sự khổ triền biên từ kiếp này qua kiếp khác.
Có đoạn Ngài nói,
"- Tôi có bộ phận dạy Đạo để cứu đời,
chất không phải trị bệnh cứu đời.
Nhưng bá Tánh không hiểu,
cứ kéo lại xin thuốc xin bùa mãi.
Buộc lòng tôi tạm dùng ít giấy vàng,
lá cây,
nước lạnh mà giúp đỡ họ.
Để họ có dịp gần gũi và nghe được lời đạo lý mà tu hành,
thoát khổ.
Cho sau này số người mắc bệnh có lúc đông không thầy thuốc nào cứu kịp.
Nói đến đây,
Ngài đưa bàn tay trái lên và điểm từ ngón mà nói rằng.
Nếu bây giờ bá tánh không tô,
Trừng sao?
Đúng thời kỳ rồi.
Con Phật,
Phật giắc.
Con Ma,
Ma bắc.
Con quỷ,
quỷ diệt.
Thuộc theo lời ông Huỳnh Hữu Hạnh tự Hương Quảng Chiến
Phần nhận xét
Đức Thầy cho biết nhiệm vụ của Ngài là giải đạo cứu đời.
Thật vậy,
các đấng cứu thế bao giờ cũng chú trọng vào việc đưa chúng sanh ra khỏi sông mê trở về bờ giác,
mới dĩ nhiên an vui.
Thế nên,
lòng tự ái chứa trang của bậc Đại giác như Ngài thì bao giờ cũng muốn cắt đứt cái khổ sanh tử triền miên mà đưa con người đến chân hạnh phúc.
Còn việc chữa bệnh,
cứu đời là phương tiện để độ kẻ nghiệp nặng tình sâu.
Bởi người được giải thoát sanh tử mới hoàn toàn hết khổ.
Còn kẻ được cứu khỏi bệnh thân thể chỉ là một giai đoạn tạm thời,
chớ làm sao mà hết khổ được.
Thế nên ta hãy gấp rút tu hành,
kẹo tử thần không hẹn.
Mẫu chuyện tiếp theo
Đức Thầy uống nước AXIT
Dạo khoảng cuối năm canh thình,
nhà cầm quyền Pháp dời Đức Thầy đến nhà thương chợ quán.
Chúng ác tâm muốn ám hại Đức Thầy bằng cách ném đá giấu tai.
Một hôm,
tên quan Ba Pháp kêu ông bác sĩ Trần Giang Tâm trao ly nước ác xích,
bảo cho Đức Thầy uống.
Ông Tâm tiếp ly nước ác xích,
đến gần Đức Thầy rồi nhìn ly thuốc đọc ấy,
có vẻ buồn vô hạn.
Ông Dư Hiểu là không một ai có thể uống một phần mười của ly thuốc này mà sống được.
Cho nên ông không nở xuống tai,
nhưng cũng không có cách nào cãi lệnh của kẻ cường quyền.
Đức Thầy biết được,
muốn cởi mở sự khổ tâm của ông Tâm.
Liền tươi cười bảo,
"- Ông đem thuốc bổ cho tôi uống đây à?
Được,
cứ đưa tôi uống." Vừa nói,
Ngài vừa đưa tai tiếp nhận ly ác xích.
Ông Tâm miễn cưỡng đưa cho Thầy với một tâm hồn đau khổ hiện ra nét mặt.
Uống xong,
Đức Thầy nằm ngủ một giấc.
Khi thức dậy,
Đức Thầy nhìn ông Tâm mà cười nói
Bác sĩ cho tôi ly thuốc bổ khi nãy.
Tôi uống xong,
thấy trong mình tôi khỏe quá.
Ông Tâm rất đổi ngạc nhiên và kính phục ngài.
Thật ngoài sức tưởng tượng của nhà khoa học.
Ông còn đang mê mang suy nghĩ,
thì Đức Thầy kêu ông Tâm nói tiếp
Bác sĩ,
ông đi trị bệnh cho người ta,
chứ vợ ông ở nhà đang mắc bệnh năng y
Chẳng những ông không trị được mà các bác sĩ khác cũng đều bó tan
Thế nên,
tôi không nợ uống hết,
mà còn chừa lại một phần đây
Ông cứ đem về cho vợ ông uống,
thì mạnh liền chứ không có sao đâu
Vì quá khâm phục đức thầy,
ông Tâm liền tiếp nhận ly nước ác xích đem về.
Đứng bên cạnh dường bệnh của vợ, ông gọi,
Bà ơi, ngủ thức.
Với giọng nói yếu ớt,
mệt nhọc, bà Tâm trả lời,
Thức.
Thuốc đây,
bà uống đi.
Bà Tâm vừa đưa tay nhận,
thì ông Tâm dựt lại.
Với giọng nghẹn ngào, ông nói,
Bà ơi,
giữa tình nghĩa vợ chồng,
từ khi bà lâm bệnh đến nay,
tôi cũng hết lòng lo chạy giữa.
Nhưng kết quả chỉ thất vọng mà thôi.
Hôm nay tôi đi làm việc,
vừa chứng kiến một cảnh kỳ lạ.
Bà biết ly này là ly gì không?
Không đợi bà trả lời,
ông nói,
đó là nước ác xích.
Bà tâm lặng lẽ nhìn chồng để chờ nghe rõ câu chuyện.
Ngừng một lúc, ông tiếp.
Bà biết không,
hồi sáng này,
tên quan Ba Pháp đưa ly nước ác xích.
Bảo tôi phải cho một ông đạo ở tỉnh Châu Đốc thôn quà hảo uống.
mà chú bảo là bệnh thần kinh.
Nhưng theo dõi ông,
thì tôi không thấy ông bệnh một chút nào cả.
Chỉ thấy ông có một phong độ khả kính,
những nét thông minh và sắc thái vượt hẳn người thường.
Ngoài những điểm ấy,
ông lại làm nhiều việc tôi nghĩ không phải là hạng phàm tình.
Bà biết không,
khi ông uống nước ác xích dơ,
chẳng những ông không chết như kẻ khác,
mà còn cho là bổ khỏe,
và biết là bà ở nhà có bệnh nang y,
bảo tôi đem về nhà cho bà uống sẽ hết bệnh.
Nhìn dở,
ông bác sĩ tiếp,
ai cũng biết thứ này là thứ giết người,
nhưng bệnh của bà thì tôi thấy không thể sống được,
nên tôi muốn cho bà uống.
Mai ra,
trời Phật nhỏ phước cho bà hết bệnh
thì hạnh phúc biết bao.
Vì tôi tin rằng ông đạo ấy là Bật tiên Phật thị hiện
để cứu khổ cho gia đình mình.
Tuy nhiên,
cầm ly thuốc độc đưa cho bà,
tôi thấy lòng còn lo sợ.
Vậy theo ý bà thì sao?
Cho tôi biết với.
Bà Tanh tỏ vẽ vui tươi.
Nếu vậy,
ông cứ đưa tôi uống đi.
Có lẽ trời Phật ban phước cho gia đình ta.
Tôi uống ly thuốc này mà có chết cũng vui.
Chứ ông nghĩ coi,
sống làm chi,
để kéo dài sự đau khổ cho thân mình,
cho luôn cả chồng con.
Cả chồng con,
thà uống,
theo tôi,
đây là cơ hội ngàn năm một thở,
nếu có chết,
linh hồn cũng được an vui.
Nói xong,
bà Tâm tiếp lấy ly thuốc đưa lên tráng khấn nguyện rồi uống vào,
trong khi ông Tâm nhìn vợ dễ dã bồi hồi loa sợ.
Một lát sau,
ông hỏi bà,
có gì lạ không bà?
Bà Tâm nói,
thấy khỏe lắm,
bệnh của tôi giảm nhiều rồi.
Ông Tâm mừng rỡ vêu cùng,
rồi sau đó bà Tâm hoàn toàn lành bệnh hẳn.
Thuật theo lời ông Lê Văn Phú.
Mẫu chuyện tiếp theo
Cấm thỏa thật ba nhà
Theo lời ông Lê Văn Lươ,
ngày 22 tháng 9 tân tỵ năm 1941,
chính ông được nghe ông Cao Bá Hấn thuật lại rằng Thuật lại rằng,
ông Cao Bá Hấn là tính đồ thường gần gũi Đức Thầy với nhiệm vụ thư ký.
Một hôm ông Hấn ngõ ý hỏi Đức Thầy về vấn đề xử thế tiếp vật,
phải làm thế nào cho đúng với tư cách của người con Phật,
và nên giao tiếp với những hạng người nào trong xã hội.
Lúc ấy,
đến buổi dùng cơm,
Đức Thầy nghiêm nghị nhìn ông Cao Bá Hấn mà nói rằng,
Tôi cấm ông không được dùng côm ở ba nhà
Ông hấn ngạc nhiên nói
Bạch thầy,
có biết bao nhiêu nhà trên đất này
Thầy cấm có ba nhà thì làm sao mà con tránh được
Đức thầy dạy
Ông nhớ nghe
Ba nhà là
Một,
nhà buôn bán xúc vật
Hai,
nhà chiêng nuôi xúc vật
Ba,
nhà làm nghề hạ bạc
Tức là nghề chạy lưới,
đánh bắt cá tôm.
Thời gian ít lâu sau,
ông Cao Bá Hấn ghé thăm nhà một người bạn làm nghề đóng đáy,
tức là dăn lưới để bắt cá ở sông hay rạch.
Ông mãi mê trò chuyện khá lâu,
đến buổi dùng cơm,
gia đình dọn mâm lên mời ông dùng bữa.
Ông trợt nhớ lại lời thầy dạy,
nên ông liền từ chối không dùng bữa.
Thấy hành động bất thường của ông,
chủ nhà ngạc nhiên hỏi
Từ trước tới giờ,
mỗi lần anh ghé thanh,
không bao giờ từ chối những bữa cơm thường nhật
Hôm nay có điều gì phiền muộn,
hay tôi có làm lỗi gì chẳng
mà anh lại từ chối với gia đình tôi như vậy?
Ông Hấn xua tai đáp
Không không,
không có việc chi buồn phiền
mà gia đình anh cũng không có gì làm tôi phật ý cả
Chẳng qua tôi giữ theo lời thầy cấm tôi đó thôi
Thầy cấm thế nào?
Ông cao bả hấn đáp
Thầy cấm tôi không được ăn cơm ở ba nhà
Một là nhà buôn bán xúc vật
Hai là nhà nuôi xúc vật
Ba
là nhà làm nghề hạ bạc
Mà nhà anh đang làm đó
Chủ nhà nghe nói ngắt lời
Nếu Đức Thầy đã cấm anh như vậy tôi không ép
Nhưng anh là tín đồ của Thầy
Tôi cũng là tín đồ của Thầy
Thầy cấm anh
Tôi cũng phải chừa nữa chứ
Thôi,
anh hãy dùng với tôi bữa cơm này,
tôi hứa với anh sẽ không làm nghề này nữa."
Ông Hấn nghĩ,
biết đâu thầy dạy mình để quá độ bạn này.
Nghĩ xong,
ông liền nhận lời dùng cơm với gia đình.
Người bạn và ông thầm khấn nguyện đức thầy sẽ chứng giám cho việc làm của mình.
Thật thế,
sau khi bạn ông Cao Bá Hấn dùng bữa cơm xong,
ông liền đem lưới đục ra,
lưới ông bầm to bầm nhỏ,
đục ông chặt bỏ ráo rơn.
xong ông xoay qua nói với ông Cao Bá Hấn
Thầy đã cấm mình không cho làm
mà mình để cho người khác làm
thì mình cũng có một phần lỗi lớn
thuộc theo lời ông Lê Văn Lương
Phần nhận xét
Câu chuyện này thầy dạy ông Hấn
mà cũng là quấn từ để dạy chung cho tất cả tính đồ
bởi vì trong 10 điều ác
thì ác sát xanh là đứng đầu
và trong năm giới,
giới sát cũng là di thủ,
bởi nhà buôn bán xúc vật và nuôi xúc vật,
cũng như làm nghề chài lưới,
đều là gây tạo quá nặng nề sát nghiệp.
Nên chẳng những thầy cấm,
mà Đức Phật xưa kia cũng cấm chứ đệ tử không cho gần gũi và thọ thực ở nơi có tạo ác nghiệp nói trên.
Đức Thầy cũng đã từng dạy,
sinh vật cũng có linh hồn,
cũng có thân sát,
cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân lõi vậy.
Lời Thầy cấm ông Hấn không cho thọ thực ba nhà là một tiếng chuông thức tỉnh những ai có duyên với Thầy.
Ông bạn của ông Cao Bá Hấn quả là người có thiện căng nên vừa nghe ông Hấn kể lại liền giác ngộ rất nhanh,
mà chặt bỏ lưới đục và kết luận bằng câu
Thầy đã cấm mình,
mình không làm,
mà để cho người khác làm thì cũng có một phần lỗi lớn.
Câu nói,
tuy thông thường mà hàm chứa một ý nghĩa thanh cao,
rất xứng đáng là một tính đồ ngoan đạo.
Thật vậy,
nếu một tính đồ biết tuân thủ lực quy của thầy tổ như ông hấn và người bạn ông,
thì có lo gì không chống đạt đến kết quả thanh cao để đến nơi đầy an lạc hạnh phúc.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo
Chết ăn không được
Vào khoảng tháng tư năm canh thình,
một ngàn chín trăm bốn mươi,
một buổi chiều nọ,
ông Lê Pháp Huynh đi xuống tổ đình để nghe nước thầy thuyết pháp.
Sau khi giải bài tường tận cho đồ chúng nghe về giáo lý nhà Phật,
Khi bàn đến việc quẩy đôn cuốn tế,
Đức Quỳnh Giáo chủ hướng về phía ông Khuynh,
ngài bảo
Này ông hương trưởng,
lúc mạnh,
mỗi buổi ông ăn không được mấy chén?
Ông Khuynh vội vàng đáp,
Bạch thầy khi mạnh giỏi,
tôi ăn được 5-7 chén.
Đức thầy lại hỏi
Còn lúc đau,
ông ăn được mấy chén?
Dạ Bạch thầy,
lúc đau,
tôi ăn chừng 1-2 chén là quá rồi.
Đức Thầy lại hỏi dồn
Lúc chết ông ăn được mấy chén?
Với câu hỏi đột ngột
Ông Khuynh lặng thinh không biết nói sao
Vì chẳng biết Đức Thầy muốn dạy gì
Tôi hỏi thật đó
Ông Khuynh có vẻ lúng túng
Ngượng trả lời
Dạ Bạch Thầy,
lúc chết
Ăn sao được mà ăn?
Đức Thầy liền nhỏ nhẹ
Đúng thế ông à
Khi chết
Con người không bao giờ ăn được
Sở dĩ con cháu cúng vỗ là để tượng nhớ đến công ân bật sanh thành dưỡng dục
và để nhớ Ngài chia cách đời đời.
Nhưng nếu sát sanh gà dịch nhiều thì linh hồn của người chết khó được siêu thoát.
Ngài giãn luận một hồi lâu rồi vào trong,
lát sau Ngài đi ra.
Ngài lúc đó anh em đồng đạo đang bàn bạc nhưng chưa ngã ngủ được vấn đề.
Thấy Đức Thầy ra,
một đồng đạo liền đứng lên bạch.
Thưa Thầy,
chúng con đến Ngài quẩy đôm,
muốn cúng thì phải làm sao?
Mong Thầy chỉ dạy.
Đức Thầy đáp.
Cúng ít,
tội ít,
cúng nhiều,
tội nhiều.
Có dĩ đồng đạo lẹ miệng.
Không cúng được không Thầy?
Không cúng,
xa địa ngục.
Lời Ngài nói như có vẻ quả quyết.
Sau đó,
Ngài xướng đọc bài thi Báo Hiếu Đạo Nhà cho tất cả mọi người nghe và khuyên nên cúng chai.
Trong sạch nghĩa nhân dày mới đúng Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay
Thuật theo lời ông Nguyễn Giang Thượng
Phần nhận xét Phần đông người ta quan niệm sự cúng kiến là để cho ông bà ăn như khi còn sống
Chứ không ngờ ai cũng là thân tứ đại Khi chết phải trả về cho tứ đại thì làm sao mà ăn cho được
mà ăn cho được,
còn linh hồn thì theo con đường tội phước.
Hơn nữa,
thần thức không có hình tướng thì đâu ăn uống như người sống được.
Thế mà người ta lại cứ lo sát sanh,
hại vật,
cúng kiến,
làm cho dòng linh
phải chịu lấy quả báo khổ đau mà không sao nói được.
Thế nên Ngài bảo,
cúng ít tội ít,
vì cúng ít là sát sanh ít,
cúng nhiều tội nhiều.
Tội nhiều là vì sát sanh nhiều,
còn không cúng thì có người không nhớ nguồn cội,
nên tội lại càng nặng hơn.
Để phá tan sự ngộ nhận của người đời,
Ngài mới đưa ra tám câu thi,
hầu dạch rõ lối đi cho mọi người được thức tỉnh mà làm tròn chữ hiếu.
Nghĩa là muốn báo hiếu cho cha mẹ tổ tiên thì nên cúng chai,
vừa tránh được sát nghiệp vừa báo hiếu giãn toàn.
Chào thời Đức Phật Tích Ca Mau Ni còn tại thế,
Ngài kể rằng
Xưa có ông trưởng giả,
ông này bình sanh thường làm việc thiện,
rất tin luật nhân quả.
Khi lâm trọng bệnh,
ông gọi các con lại dặn
Khi cha chết,
các con nhớ phải cúng chai,
từ đám từng,
từ quải đơm nhất định không được cúng mặn cho cha nhé.
Khi ông từ trần,
con cháu y lời cúng chai.
Đến thất thứ bảy,
chúng mới bàn tán.
Cha mình khi sống không ăn chai trường.
Nai chết,
mình cứ cúng chai hoài làm sao cho cha ăn ngon miệng.
Hơn nữa,
mình mời bạn bè đến mà cúng chai hoài.
Người ta nói mình hạ tiện.
Cúng cha không dám làm thịt gà, thịt heo.
Thôi thì còn một tầng cuối để mình làm heo cúng cha.
Trước cúng sao mời bà con đến để đải đằng,
thế là họ làm heo,
làm gà, dịch,
cúng tuần trung thất cho ông rất linh đình.
Còn đang ăn uống,
bổng của đứa bé độ mười tuổi dẫn con trâu đến ngay trước cửa,
tự nhiên con trâu ấy ngã ra chết tốt.
Đứa bé liền lấy nắm cỏ đúc vô miệng bảo,
ăn đi trâu,
ăn đi trâu.
Thấy hành động kỳ lạ,
những người trong nhà liền nói,
Thằng nhỏ này bộ điên rồi sao chứ?
Con trâu đã chết rồi cứ đúc cỏ,
kêu ăn hoài,
làm sao ăn được?
Đứa nhỏ nói,
Trâu tôi mới chết còn nóng hổi,
tôi cho nó ăn cỏ,
các ông nói tôi điên.
Còn cha các người đã chết 49 ngày rồi,
mà các người còn đòi cúng cho ông trưởng giả ăn như vậy.
Các người mới là điên hơn tôi chứ".
Con ông trưởng giả hỏi,
"- Ê,
mày ở đâu?
Con của ai mà dám nói tụi tao điên vậy?"
Đứa nhỏ đáp,
"- Ta là trưởng giả,
cha của các ngươi đây.
Bởi các ngươi không nghe lời dạy của ta mà sát sanh cúng kiến,
khiến ta phải chịu tội khổ nên ta hiện đến để cho các ngươi biết.
Các ngươi là con bất hiếu,
chớ không phải là báo hiếu ta đâu."
Nói xong,
con trâu và đứa bé biến mất.
Bây giờ,
các con ông trưởng giả đều sám hối phát tâm tu hành.
Mẫu chuyện tiếp theo
Truyền Phép Linh
Một buổi chiều, ngày đầu năm canh thình 1940,
Đức Thầy sau khi thăm các danh lam thắng cảnh trên ngọn núi Tà Lơn Hùng Vĩ,
Ngài trở về xã Thới Sơn thuộc quận tỉnh Biên.
Đêm ấy,
Ngài tạm trú tại nhà bà nhạc mẫu ông Hương Giáo Tập,
một bà lão rất hâm mộ đạo Pháp.
Nghe tin Đức Thầy về đây,
tất cả tính đồ quanh nhà bàn lũ lược đến nghe Đức Thầy thuyết Pháp.
Có một người đứng lên cung kính bạch với Ngài rằng,
Bạch Thầy,
mấy ông đạo trên núi thường luyện Pháp để sao Phò Vua giúp nước.
Còn Đức Thầy,
sao không dạy đệ tử luyện Pháp như bên Tiên Đạo?
Đức Thầy đáp.
Đạo Phật chỉ dạy con người tu tâm sửa tánh cho được trọn lành,
trọn sáng.
Còn Pháp thuật là tà giáo.
Nếu con ham luyện Phép,
tức con nuôi ốc cạnh tranh và cầu danh lợi.
Thuộc theo lời ông Ngô Thành Bá
Phần nhận xét
Nhiều người đứng ngoài ngưỡng cửa của Đạo Phật không nhận xét rõ cái mục đích chính của Đạo Phật ra sao sao,
nên họ chỉ nhìn qua lo rồi dội kết luận rằng
đạo Phật là một đạo chỉ dành cho người ta
gian sinh, cầu khẩn hoặc làm nhiều sự linh ứng có tính cách thần kỳ.
Chính ông đồng đạo kể trên cũng ham linh như bao nhiêu người khác
nên mới đem chuyện phép linh hỏi với Đức Thầy.
Đức Giáo Chủ tất nhiên là đã dư hiểu tâm niệm của tính đồ mình và tâm lý chung của quần chúng,
nên Ngài lột bỏ ốc cảnh tranh và mê tính của con người để gọi họ trở về với chân lý.
Thật vậy,
chỉ có chân lý là bất diệt,
Và có đủ diệu năng đưa con người dược khỏi dòng tiếp nối sanh tử.
Đó là sự trao tâm,
sửa tánh,
Cho đến nơi trọn sáng, trọn lành,
Là điều căn bản mà Ngài đã từng dạy.
Trao tâm,
luyện tánh cho minh,
Chuyên lo niệm Phật,
sửa mình cho trơn.
Quyển năm khuyến thiện.
Còn việc bùa phép thì kẻ tà mị làm cũng được,
Nên thầy dí nó như cá linh.
Họ có thể hô phong, quán võ,
sái đậu thành binh,
Mà biến quá Phật thánh,
dân dân.
Xưa Tổ U Ba Cúc La đã giàu ngôi vị Tổ,
Mà khi Ma Dương biến ra Phật còn phải lễ bái,
Dù rằng Tổ đã bảo Ma hiện ra cho Ngài xem.
Thế mà khi chúng hiện,
Ngài còn ngỡ là Phật đến.
Nhưng sở dĩ chúng thua Phật là bởi Chúng không có chân lý dững chắc,
Cũng không có từ bi hỷ xã,
Cũng như chưa đạt lậu tận thông.
Nên khi chúng ta hôm nay ở vào buổi Cùng cơ tận Pháp,
Nghiệp nặng, tình dày,
Trướng sâu,
huệ cạn,
Thế mà còn ham linh, ham nghiệm,
Sao tránh khỏi sợ e mang nghèo?
Chẳng những nghèo vàng bạc,
mà đạo đức cũng nghèo.
Chẳng khác nào người bị bệnh quá nặng mà không lo uống thuốc theo lời chỉ dạy của lương y,
lại đi tìm tội coi thuốc đó từ đâu có.
Của ai làm ra,
mùi vị ngon dở thế nào,
dân dân,
thì trắng sao,
khỏi chết.
Bởi người ham linh có nhiều điểm tai hại chẳng nhỏ như còn cạnh tranh mà cạnh tranh là đầu mối của danh mà danh là một trong ba thứ trở ngại lớn của người tu giải thoát.
Khó tránh khỏi nẻo tà bởi bọn tà sư ngoại đạo thường dựa vào sự linh ứng mà phiến dụ ta hoặc bỏ tránh đạo mà theo chúng hoặc đem tiền bạc của cãi mà cúng dân cho họ.
Hơn nữa,
khi Thầy tổ gián bóng,
chúng sẽ làm một vài trò ảo thực trùy bí,
rồi đón chuyện nọ chuyện kia,
và tự xưng là Đức Thầy trở lại,
hoặc là đệ tử của Đức Thầy đã được Ngài sai về cú dân, độ thế,
dân dân.
Đã biết rõ chuyện đó nên Ngài đã từng khuyên dạy trước lúc ra đi.
Phật trời đâu dụng phép linh,
chỉ dùng đạo đức mặc tình ghét ưa.
Vậy ai là người muốn dược bể trầm lưng để trở về chân hạnh phúc?
Phải nên nắm chặt giáo lý của Tổ thầy lo trao tâm luyện tánh.
Không nên ham linh ứng bên ngoài mà phải nắm chặt yếu tố căn bản.
Mẫu chuyện tiếp theo
Tu Tiến chớ tu lùi
Lúc Đức Thầy ở Sài Gòn,
có bà Hai Huỳnh Thị Cưỡng và người em thứ tư là bà Huỳnh Thị Lĩnh ở Tồng Sơn.
ở Tòng Sơn.
Sau khi được quý y với Đức Thầy,
hai bà về nhà cố gắng lo tu thân hành thiện.
Hằng ngày thường xem sóm giảng của Đức Thầy
là một quyển kinh nhật tụng khi đọc đến câu
Chai bốn bữa ấy là quy tắc
của kẻ khùng chỉ dắt chúng sanh.
Thì hai bà bàn tán với nhau,
bà hai nói với bà Tư.
Dì Tư à,
Thầy bảo chai bốn bữa ấy là quy tắc
mà mình ăn 6 ngày lại ăn thêm 1 năm 3 tháng nữa
sợ e trái lời thầy có lỗi đó
bà tư nói
ờ tôi cũng nghĩ như vậy
nhưng từ khi chưa quý y
thì mình ăn theo truyền thống của cha mẹ theo thiền lắm
bây giờ đã quý y với đức thầy rồi
thì phải ăn lại 4 ngày
chứ ăn dư sợ có lỗi quá chị à
hai bà ngẫm nghĩ rồi nói
muốn biết rõ hơn
Chị em mình nên đi Sài Gòn trước thăm Đức Thầy,
sau nhờ Thầy dạy cho mình biết,
coi nên để ý hay là sửa lại.
Bàn tán xong,
vài ngày sau,
hai bà đi đến Sài Gòn.
Khi ra mắt Đức Thầy,
bà Tư lẻ miệng bạch rằng,
Bạch Thầy,
chị em con lên thăm Thầy,
và nhờ Thầy dạy cho chúng con biết một việc.
Nguyện trước khi chưa quý y với Thầy,
chị em con ăn chai theo thiền lâm,
một tháng sáu ngày với ba tháng tam nguôn.
Nai Thầy dạy ăn bốn ngày.
Vậy bây giờ chúng con ăn bớt lại hay là ăn luôn nhờ Thầy chỉ dạy.
Với nét mặt từ bi,
Đức Thầy miễn cười bảo.
Thỏ nhỏ,
cô đi học lớp mấy trước?
Dạ Bạch Thầy, đầu tiên thì con học lớp năm.
Rồi năm sau,
cô học lớp mấy?
Dạ năm sau thì con học lớp tư.
Mới thì học lớp 5,
sau lớp 4,
rồi đến lớp 3,
2,
1.
Nên nhớ là càng học phải càng lên,
chứ không ai học xuống bao giờ.
Sự tu cũng vậy.
Các cô ăn mỗi tháng 6 ngày,
1 năm 3 tháng là tốt lắm.
Có sao đổi ăn bớt lại.
Sở dĩ thầy dạy ăn chai bốn bữa đó là nguyên tắc đầu tiên của người sơ học.
Phải tùy trình độ của họ mà cho họ tập theo điều kiện tố thiểu.
Rồi khi trình độ giác ngộ khá thêm sẽ từ từ tiến.
Chứ chẳng lẽ ở một chỗ hoài sao.
Nên nhớ tu là phải tu lên chứ đừng có tu xuống nha.
Thuật theo lời của cô Lý Mỹ Phước,
con gái bà hai Quỳnh Thị Cưỡng
Phần nhận xét
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngày xưa khi hóa độ đệ tử
Trước tiên,
Ngài cũng dạy cho hàng đệ tử tại gia ăn chai mỗi tháng chỉ có hai ngày là mùng một và ngày rằm
Một hôm,
ông Cò Tào Hảo trong câu chuyện đàm lẫn với Đức Thầy,
ông nói
Tôi thấy pháp môn của Ngài dạy tu dạy thoát,
còn bên Tâm Kỳ người ta dạy tu tiên nhưng ăn chai trường rất nhiều,
còn Ngài dạy có bốn ngày sao dạy thoát được?
Đức Thầy trả lời,
Mình là người Đạo Phật rồi,
Sở dĩ tôi dạy tính đồ tôi ăn chai 4 ngày,
Đó là quy tắc,
tối thiểu là 4 ngày.
Khi họ nhận thức được rồi,
Họ sẽ tiến lên.
Còn nếu tôi bắt người ta ăn chai trường liền,
Thì người ta làm không nổi,
Vì bắt buộc sẽ không có kết quả.
Qua câu chuyện trên ta thấy,
Thế nhưng chúng ta thấy Đức Thầy cũng như Đức Phật
bao giờ cũng tùy duyên quá độ,
cũng như phương pháp tập bơi lội của đứa trẻ.
Khi nó chưa biết bơi,
nó cảm thấy sợ nước lắm,
nên mẹ phải dùng phao và theo sát bên nó.
Đôi khi nó còn không chịu lội nữa.
Nhưng đến lúc lội giỏi thì nó thấy ham thích,
dù không được mẹ bảo,
chúng vẫn đòi tắm,
bơi lội.
Chúng ta có phúc duyên được gặp chân lý siêu màu của Thầy Tổ nên cố gắng tu tiến chớ tu lùi.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Bài tà hiển chánh
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mảo năm 1939 Đức Thầy khai đạo tại Hòa Hảo.
Lúc ấy tôi chưa biết gia đình của Đức Ông và cũng chưa biết Đức Thầy.
Vì chú tôi là lời của ông Huỳnh Hữu Hạnh.
Gia quyến tôi trước kia thọ Pháp với một sư tên Hai Cung ở Mỹ Luôn cũng căn gốc của Đức Phật Thầy và Đức Cố Quảng.
Bỗng nhiên một hôm Đức Thầy gửi cho ông sư Cung hai quyển giảng,
quyển nhất và quyển nhì.
Ngày 9 tháng 4 năm kỷ Mảo,
người anh tôi có bệnh,
rước ông Hai Cung đến nhà.
Ông mang theo hai quyển giảng Đức Thầy gửi cho ông.
Nhân lúc trị bệnh cho anh tôi,
tôi đem ra đọc và giải nghĩa cho ông nghe.
Tôi đọc xong hai quyển giảng,
rõ được chân lý,
tâm hồn tôi vừa phục vừa kính mến Đức Thầy
và nghĩ rằng Đức Phật Thầy tái an tái sanh.
Liền khi ấy,
đêm mùa 9 tháng 11 năm kỷ Mảo,
tôi cầu nguyện cử quyền
Cầu nguyện cử quyền và xin phép ông sư cung để được đến ra mắt Đức Thầy.
Rạng ngày 10 tháng 11,
gặp dịp mai,
có người ở xóm đem vợ đến cho Đức Thầy trị bệnh.
Tôi liền quái gian đến tổ đình.
Lúc bấy giờ,
sáng ngày 11 tháng 11,
khi đến,
Thầy đang thuyết pháp,
Nguyện giảng thứ tư.
Thầy ngưng lại hỏi tôi.
Mới qua hả Hương Quảng?
Và Đức Thầy nói luôn những chuyện ông sư cung Thầy trước của tôi,
làm cho tôi sửng sốt.
Tôi nhận thấy Thầy là một đấng tiên tri.
Liền đó,
tôi xin phép Thầy để được chép quyển thứ tư,
tức quyển giác mê tâm kệ.
Khi đang chép,
Thầy tới lui coi tôi chép,
và Thầy dặn chép cho thật kỹ,
từ nét từ dấu,
đừng để trật dấu trật một chữ mất nghĩa một câu.
Đây là lần đầu tiên tôi đặt cả Đức tinh nơi lòng.
Qua ngày 12 tháng 11,
tôi trở về gia đình trình với cửa quyền cùng thân mẫu và yêu cầu ông sư cho phép tôi được quý y với Đức Thầy.
Được sự đồng ý của gia đình và sư cung,
tôi thỏa giáo quý y Thầy.
Đức Thầy biết tất cả hình thức gia đình tôi.
Thầy giải rằng.
Trước kia Hương Quảng còn mê,
nay tỉnh ngộ nghe lời Thầy dạy.
Bức trần điều mà Hương Quảng làm bằng thờ chư dĩ ở nhà cứ để y như vậy,
làm ngôi tâm bảo thờ Phật.
Bên hữu thờ bà Đỗ Mạng thì dẹp đi,
bên tả thờ ông Táo cũng dẹp luôn.
Thầy giải nghĩa.
Đúng là bà Cửu Thiên,
bà Chúa Tiên,
thời này mấy bà ấy đã giao hàng Phật rồi.
Vậy hương quảng về kiếm bông qua,
nước lã và cầu nguyện.
Giái như vậy,
hồi trước tôi còn mê nên thờ vậy.
Nay tôi huy y theo Thầy,
Thầy tôi dạy.
Nếu thật là bà Cửu Thiên quyền nữ,
thì chứng minh cho tôi thỉnh về ngôi Tam Bảo,
Thờ chung với Phật
để tôi sùng bái.
Còn ai ở đây hưởng đồ cúng kiến xin đi chỗ khác mà kiếm ăn.
Từ đây tôi không còn cúng kiến nữa.
Trang âm táo cũng giái như vậy rồi dẹp luôn.
Tôi dân lời làm y theo lời Thầy dạy.
Và từ đó tôi thường lui tới thăm giếng Đức Thầy.
Đến ngày 10 tháng 12 năm Kỷ Mảo
tôi đến giếng Thầy nối 7-8 giờ sáng.
Ngày đó làng Hòa Hảo cúng cầu an tại đình thần.
Đức Thầy đứng dưới mé sông trước tổ đình.
Bỗng Thầy đi thẳng lên bước vào nhà.
Thầy cười và nói.
Thật tức cười các ông hương chức hội tề làng Hòa Hảo hết sức.
Đức ông hỏi.
Cười gì vậy Thầy Tư?
Đức Thầy chỉ xuống đình và nói.
Ông cả không thấy sao.
Mười hai hương chức hội tề xúm nhau đâm hỏng con heo.
đem ngay trước bàn thành rồi ráp nhau bằng áo dài bịch khăn đóng.
Lại con heo mà đền tổ sát sanh chưa rồi,
chứ thần nào trứng mà ăn?
Lúc đó tôi có đứa con thứ ba năm đó đúng 12 tuổi.
Tôi có ký bán cho ông Táo một con heo,
đúng 12 tuổi sẽ cúng.
Tôi đã nuôi sẵn một con heo,
định đến ngày 25 tháng Chạp năm Mẹo
đúng lời giái sẽ cúng trả lễ.
Tôi đem chuyện ấy bạch với Thầy.
Thầy cười và nói rằng
Phật táo ngài làm việc với Đức Ngọc Đế
chứ không ở dưới Trần Giang nuôi con
cho chúng sanh đặng ăn thịt heo.
Hương quảng hai đem bán con heo đó
lấy tiền chi tiêu trong gia đình
và tránh tội sát sanh.
Nếu ai đòi thì nói Thầy không cho cúng.
Có gì Thầy lãnh hết cho.
Và Thầy dạy thêm Thầy dạy thêm.
Không nên cúng hạng cúng căng gì hết,
Chỉ cúng cử quyền thất tổ mà thôi.
Nhờ ân đức quay linh của tổ thầy,
Gia đình tôi từ lúc theo thầy học đạo cho đến nay,
Ba mươi năm khỏi tốn hao cúng kiến chè xôi,
Và gia quyến cũng không bệnh quạng đau ốm chi cả.
Từ đó cứ mười bữa nửa tháng là tôi đến viếng thăm thầy.
Về việc niệm Phật,
tôi bạch trước thầy, được thầy dạy.
Tử lục tử trì tâm bất diện
Dạ nhưng còn khi đi tiểu ở trần có niệm được chăng?
Đức Thầy cười và nói rằng
Hương quảng đi tiểu đi cầu vẫn niệm được
Đó là hương quảng tưởng Phật
Chứ không phải hương quảng rũ Phật đến đâu mà lỗi
Ngoại trừ khi gần gũi vợ chồng thì niệm không được
Thuật theo lời ông Huỳnh hữu hạnh
Phần nhận xét
Những thầy dạy ông Huỳnh Hữu Hạnh,
Tức Hương Quảng Chiến,
nên dẹp sự thờ cúng lễ mệ theo lối dị đoan,
mà cũng là lời khuyến cáo chung cả hàng môn đệ.
Hay nói một cách khác là một tiếng chuông đánh thức kẻ mê mờ chưa hiểu rõ chân lý.
Còn những hạng ăn đồ cúng kiến mà làm hết bệnh là tà thần.
là thần.
Nếu ta cúng kiếm mãi,
chúng ăn quen sẽ nhiễu hại chúng ta.
Tiếp theo đây là Mẫu Chuyện
Trái Bí Đao
Năm Kỷ Mảo,
1939,
tại Cù Lao Ba,
xã Vĩnh Trường, quận An Phú, Châu Đốc.
Có một ông tên Hai Tạo,
ông có người vợ tên là Nguân,
thọ bệnh rất nặng,
đã điều trị nhiều thầy mà không thuyên giảm,
cả bác sĩ cũng chạy luôn.
Lúc ấy,
cô Năm Công là người ở cùng xóm,
mới chỉ cho ông biết rằng ở Hòa Hảo có ông Tư trị bệnh hay lắm,
nên chở bà Hai xuống đó mai ra đặng mạnh chăng.
Nghe lời Năm Công,
ông Tạo cùng con gái là cô Theu và bà Thái Thị Quy tự là hai giáo,
là cháu gọi hai Tạo bằng chú,
chở bà Hai Tạo ra đi.
Khi đến tổ đình,
ông Tạo liền lên ra mắt và nhờ Đức Thầy cứu độ vợ ông.
Đức Thầy bảo,
ông xuống sông,
múc xuôi theo dòng nước cho bệnh nhân uống,
rồi Đức Thầy buộc dây chuối cả tay lẫn chân cho người bệnh,
thì bệnh nhân được thuyên giảm đôi phần.
Ngài còn bảo thêm,
Nếu muốn bệnh nhân mau hết,
thì hãy đem ba món đồ hiện có nơi đây liền bỏ xuống sông,
thì bệnh sẽ hoàn toàn chức hẳn.
Lúc ấy Đức Thầy nhìn ngay cô Theo,
vì cô ấy có đeo ba món đồ là
một sợi dây chuyền,
một chiếc dòng và một cái khâu thải đều bằng đồng cả.
Sông vào thời ấy rất có giá trị.
Vì thấy cô Thiêu tiếc của còn mãi trần trờ nên bà hai giáo khuyên cô nên vì chữ hiếu mà làm cho mẹ sốn bình phục.
Cô Thiêu liền mở ba món đồ ném xuống sông.
Khi ra về Đức Thầy bảo thêm.
Một trái bí đao,
một ít đường phèn,
nước mưa.
Nấu cho bệnh nhân uống sẽ mau bệnh phục.
Trên đường về từ sông Tiền tới sông Hậu,
Dượt qua nước xoáy dàm đao hướng châu Đốc,
Chừng dài mươi thước,
bà hai bơi mũi,
Trông thấy một trái bí đao trôi trên mặt nước,
Liền dất lên nhưng bị trợt đi.
Cô theo phía sau dất được,
Và để sau chót lái xuồng.
Khi về đến nhà,
mọi người phân chia công việc,
Kẻ kiếm nước mưa,
người kiếm đường phèn,
Còn cô Thêu lo xẻ gọt trái bí đao.
Khi xẻ trái bí đao ra,
cô Thêu xanh mặn,
Vì ba món đồ cô đã liện xuống sông Hòa Hảo,
Nai lại nằm trong ruột trái bí đao.
Lúc ấy,
mọi người nghe chuyện Đều ngạc nhiên kính phục sự quyền dịu của Đức Thầy.
Còn bệnh nhân sau khi đã uống thuốc xong,
Ngủ mộng nhất,
khi tỉnh dậy,
Thì trong mình đã bình phục hoàn toàn.
Nhờ cảm kích ơn đức của Đức Thầy đã cứu bệnh và khâm phục dịu dụng thần thông cùng lời thuyết pháp dư dịu thẩm thâm của Đức Thầy,
nên bà hai giáo âm thầm phát nguyện quý y theo Phật.
Sau đó,
bà có thỉnh được quyển sám giảng của Đức Thầy,
nên bà quan hỷ đem giới thiệu cho chú của bà là ông hai.
Dốn sẵn lòng cảm kính,
nên khi đọc qua quyển sám giảng,
Cả gia đình ông Tạo đều công nhận Đức Thầy là một vị Phật sống tại thế.
Do đó cả gia đình ông cùng một số thân thủa khác đồng nguyện quý y theo Phật cả hình thức lẫn tinh thần.
Mẫu chuyện này do bà Hai Giáo là người trong cuộc kể lại.
Lúc trước bà ở Cù Lao Ba hiện nay bà cứ ngủ tại ấp Long Châu Một xã Thạnh Mỹ Tây.
Phần nhận xét
Câu chuyện này cũng như nhiều câu chuyện khác,
mục đích chính của Đức Thầy là dạy đạo để cứu đời.
Nhưng đối với kẻ ít khăn lành,
Ngài cũng phải dùng phép nhất quán lợi hành để độ họ.
Chớ không dùng quyền diệu của tiên gia mà độ bệnh,
thì họ sẽ không có dịp cảm kính Đức Ân,
cũng đâu có dịp được thắm nhường Pháp Vũ.
Dợ ông Tạo được mạnh tuy là quý,
nhưng đâu bằng cái quý của người đã gặp được Phật Pháp và khoác nguyện quý y tu tập.
Cú bệnh chỉ là giải pháp cú khổ nhất thời,
còn tu hành thì mới giải được cái khổ triền miên.
Đức Thầy đã ra đời như dần Thái Dương,
rồi tan sương mù.
Dù đối với kẻ động căng hay lợi trí,
đều được nhường gọi Đức Ân.
Thật phúc duyên thay cho những ai là người sánh vào đời mạc hạ mà được gặp giáo pháp của Tổ Thầy.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo
Rủa Con
Ở Phú Thuận có hai vợ chồng người nọ đem một người con gái lối 18 tuổi đến nhờ Đức Thầy trị bệnh.
Thầy dòng người con gái rồi nói
Tại sao lại hại người ta như thế?
Người con gái trông rất lanh lợi, trả lời
Cha mẹ tôi gã vợ cho tôi lâu lắm rồi kia mà
Chứ nào phải là tôi dám làm ngang
Đức Thầy nói với cha mẹ người con gái
Tại bà tất cả
Lúc con bà mới 7 tuổi Bà có rũa,
đồ hà bá *
Cho nên thần hà bá dưới sông Nga Vĩ
Mới nhập vào con bà từ đó cho đến bây giờ
Sự việc này làm cho bà chân hững vì con bà cũng bắt đầu xanh mét từ đó đến giờ.
Đức Thầy khuyên bà từ nay trở về sau chẳng nên rũa con nữa nên đem lời hiền lành mà giáo hóa.
Rồi Ngài quay sang đứa con gái nói
Thôi người ta đã ăn năn rồi ngươi phải trở về chỗ cũ từ nay đừng làm chuyện sằng bậy nữa.
Vừa nói,
ngài vừa ngắm nước phun vào mặt,
tức thì cô này té xỉu.
Dây lâu tỉnh lại,
và nói chuyện tỉnh táo như thường.
Cha mẹ người này cảm ơn rối rích.
Đức Thầy khuyên.
Ông bà nên ăn chai,
niệm Phật,
làm lành.
Thuật theo lời cô tu sĩ Võ Thị Đồng.
Phần nhận xét
Nhiều người không rõ tai hại của khẩu nghiệp,
Nên mỗi khi tức giận thì họ kêu mời cõi âm mà trù rũa.
Người phụ nữ trên đây cũng ở vào trường hợp đó.
Nhưng đến khi đau ấm thì khóc than khẩn giái cúng kiến tà ma.
Vì thấy chúng sanh lầm lạc như thế nên Đức Giáo Chủ từ bi dạy.
Khổ lao đà sắp đến nơi,
thề gian bất miệng kêu mời cõi âm.
Từ khi nghe được những lời từ quấn của Ngài,
người ta mới biết được tai hại của khẩu nghiệp mà chừa bỏ rất nhiều.
Câu chuyện trên đây cho ta thấy rõ,
người không biết giữ gìn khẩu nghiệp
thường buôn lời nói ác,
Hoặc kêu mời cõi âm mà khiến sai,
mời thỉnh,
chẳng những mang tội ác khẩu còn gặp lắm tai quả cho gia đình mình,
Chừng đó mới hối tiếc khóc thang,
thì ôi thôi đã muộn.
Ta hãy nghe lời từ quấn của Đức Tôn Sư.
Lửa lời tiếng dịu dàng trống sạch,
khi thốt ra đoán chánh hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
bằng tích ác quả ương đeo đắm.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Đi tìm Phật
Năm 1966 tôi được thủ quấn khóa đào tạo giảng viên truyền bá giáo lý trung ương tại Thánh địa Hòa Hảo bỏng được tin cô ký giỏi về giếng tổ đình.
Ghi chú tôi là lời tu sĩ võ thị đồng.
Vốn sẵn tánh hiếu kì,
tôi muốn được biết cô Ký,
vì tôi nghĩ cô chắc có nhiều duyên phước lớn mới được theo hầu Đức Thầy và được Ngài Quang Lâm đến ngủ tại nhà cô trong thời gian truyền đạo,
và nhất là muốn được nghe cô kể chuyện bên Thầy mà lúc nào tôi cũng khao khát được nghe.
Ý đã quyết định nên chiều hôm ấy tôi rủ vài bạn khóa nữ sinh cùng đi và định nghỉ đêm tại tổ đình cùng cô ký để nghe cô kể chuyện.
Khi đến nơi chúng tôi chào hỏi,
cô cháu được biết nhau trong bầu không khí vui tươi,
tôi nói,
Thưa cô hai,
chúng con từ trước đến nay nghe tiếng cô nhưng chưa gặp mặt,
hôm nay mới được biết cô.
Thưa cô,
chúng cháu là kẻ sanh sao nở mụ,
rất khao khát được viết những mẫu chuyện chung quanh Đức Thầy mà cô là người có nhiều duyên phước được hầu Thầy.
Vậy tối nay chúng cháu sinh ở đây một đêm,
nhờ cô kể cho chúng cháu được nghe nhiều mẫu chuyện suốt thời gian cô được theo Thầy."
Cô ký tươi cười đáp,
"- Ờ được,
mấy cháu ở đây đi,
cô kể hoài cũng được nữa."
Tưởng gì,
chứ kể chuyện bên Thầy cô sẵn sàng lắm.
Thế là sau thời cuốn tối,
tôi bắt đầu đặt câu hỏi với cô hai,
giống như một nhà phóng viên tìm tin tức cho báo chí.
Mở đầu câu chuyện, tôi hỏi,
Thưa cô hai,
chúng cháu muốn biết nguyên nhân gì cô ở Bạc Liêu mà sớm gặp Đức Thầy để quý y dậy?
Cô cười nói,
Ờ,
để cô kể cho cháu nghe,
kì diệu lắm cháu à,
đâu phải khi không mà cô được gặp thầy mà quý y đâu.
Cháu biết không,
cô là dân Tây mà,
đâu có phải dễ tin Phật Pháp mà tu.
Một bữa nọ,
cô nằm mộng,
thấy cha cô về,
rầy cô, và nói,
và nói,
Phật đã xuống thế rồi,
mà sao con không chịu tu?
Nè,
cha cho con biết,
nếu cứ mãi mê danh lợi,
thì sao khổ đừng than trách,
ăn năng cũng chẳng kịp nghe con.
Phật xuống thế kỳ này là cơ tận việc,
nếu không tu thì dĩ nhiễn chịu đòa nghe con.
Nếu không tu là đại bất hiếu nghe con.
Cô bị cha rầy quá tai,
cô khóc nứt nở và nói,
Thưa cha,
cô biết Phật ở đâu mà tìm?
ở đâu mà tìm,
tu làm sao mà tố?"
Cha cô nói,
Con đi theo cha,
sẽ gặp Phật.
Thế là cô đi theo cha cô
đến một cảnh giới xinh đẹp,
nhất là có một hồ sen rất to,
dưới hồ có nhiều hoa đua nở.
Chính giữa hồ có một hoa sen thật lớn,
có hào quang sáng rực.
Lại có một người tướng mạo xinh đẹp
đứng trên đó.
Cha cô nói,
Này,
con hãy nhìn cho kỹ,
Vị đang đứng tại qua sen lớn đó là vị Phật đã gián thế tại Việt Nam rồi đó con.
Con nhớ tìm cho được vị này mà quý y,
nhìn kỹ nghe con."
Cô dạ dạ và chăm chú nhìn từ đầu tới chân.
Khi tỉnh giấc,
cô rờ gối thì biết mình đã khóc ướt gối.
Cô kể lại cho ông Ký nghe và xin ông để cô đi tìm Phật.
Dốn sẵn có duyên lành nên ông Ký chấp thuận.
Thế là sáng ra,
cô kêu tài xế lái xe chở cô đi tìm Phật.
Cô nghĩ,
chắc Phật thì ở trên núi.
Thôi,
mình đi cạnh núi,
con đường đi từ Bạc Liêu dài lên.
Đi tới đâu,
cô cũng khỏi thăm,
chỗ nào có vị linh thính hoặc kỳ hạnh,
cô đều đến gặp mặt,
coi có phải là vị Phật mình được thấy trong mơ không.
Trải ba ngày, cô đi tới Châu Đốc.
Có người chỉ,
ở Tân Châu có ông đạo linh lắm.
Cô không đi núi,
liền cho xe đi thẳng về Tân Châu.
Khi đến nơi,
gặp ông Đạo đó,
cũng không phải,
lòng cô buồn bã lắm.
Hỏi thăm thì người ta chỉ,
ở Hòa Hảo có ông Đạo còn trẻ,
mà sáng suốt và có nhiều điểm đặc biệt thoát tục.
Nghe đến ông Đạo này,
cô thấy lòng mừng khắp khởi
và nông nao đi tìm coi có phải không.
Ghé chợ mua ít trái cây rồi đi thẳng tới Hòa Hảo.
Khi xe gần tới tổ đình,
khiến cô không ngồi yên,
như mình sắp gặp cha mẹ chết đi sống lại vậy.
Gần tới chợ Mỹ Luôn,
là cô ngồi ló đầu ra ngoài để tìm kiếm.
Có lẽ Đức Thầy đã biết,
nên ngài ra đứng tại cửa ngõ,
đưa mắt nhìn ra đường.
Bỗng,
cô hô lên cho xe ngừng lại,
vì đã gặp Đức Thầy,
người mà cô đã nhìn thấy đứng trên qua sen trong mộng.
Cô bước xuống xe làm lễ Thầy,
được Thầy nghiêng mình đáp lễ.
Lén nhìn Thầy từ đầu đến chân,
quả đúng rồi,
dĩ Phật mà mấy ngày qua cô hàng tìm kiếm.
Bỗng cô khóc nứt nở,
dù ráng kèm cũng không được.
Cô khóc thật lớn,
và tấm tức tấm tửi,
làm cho chú tài xế và mấy người chung quanh chẳng biết là sự gì.
Biết mình là vợ một thầy ký mà khóc om sòm như con nít thì cũng quá kì,
nhưng không làm sao nính được.
Cô phải ôm mặt,
chạy tuốt vào nhà bếp,
nhưng vẫn khóc,
càng khóc lớn hơn nữa.
Đến nỗi bà cô,
nội tổ của Đức Thầy ở nhà trên cũng nghe,
nên bà hỏi,
Ai làm gì mà khóc dữ quá vậy?
Đức Thầy cười nói,
Cháu ông lừa.
Rồi Đức Thầy bước xuống nói tiếp.
Thôi chứ,
khóc hoài sao.
Các con ơi,
tự nhiên cái cô nín dứt như kẹ,
liền đi rửa mặt và ở lại đây mấy ngày để nghe Pháp và quy y.
Thuật theo lời cô Tu Sĩ, võ Thị Đồng.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Cùng một sự ăn.
Lúc Đức Thầy đang lưu trú tại nơi tư gia ông Võ Mậu Thạnh,
xã Nhân Nghĩa, Cần Thơ,
có ông Sáu Duyên một tính đồ từ Long Xuyên đến viến thăm Đức Thầy.
Tiện việc, ông Duyên bạch hỏi Thầy về sự ăn uống của người tu ra sao.
Đức Thầy bèn giảng cho ông Duyên nghe.
Sự ăn uống là giúp cho cơ thể khỏe mạnh hầu thi hành việc đạo nghĩa.
Thân xác,
ví dụ như chiếc xe.
Cơm là săn,
vật thật là nhớt.
Xe có săn có nhớt thì xe chạy mới được.
Xe chạy bằng săn nhớt.
Nếu ai nói rượu là quý mà đem đổ vào xe thì xe chết mãi.
Ông nên nhớ rằng ăn để mà sống,
Chớ không phải sống để mà ăn.
Và người Tôn không nên chấp thức ăn ngon dở,
Nhiều ít,
hoặc chú tâm đến các thức ăn trước khi dùng.
Nghe được lời Thánh Quấn ấy,
Ông Duyên rất vui mừng cởi mở
Và ghi nhớ mãi trong tâm tư.
Thuộc theo lời ông Sáu Duyên
Lời nhận xét
Lời dạy sáng suốt của Đức Thầy như một quấn từ của bà mẹ thân yêu.
Đối với giáo lý của nhà Phật
thì cái ăn là một trong năm món dục lạc,
chứng ngại cho kẻ tu hành,
nếu không biết điều phục nó.
Xưa nay,
người được coi là tu hành chân chính thì lúc nào họ cũng không quan trọng món ăn mà luôn dình lòng dị tha hỷ xã.
Xưa tôn giả ca chuyên viên chỉ dùng phương cách ăn uống của Ngài mà quá độ được ác sanh dương là một ông vua đầy gian ác.
Ai có từng theo chân Đức Thầy trong thời gian dân du quá chúng đều nhận thấy ở nơi Ngài rất đầy đủ đức độ qua sự ăn uống.
Chẳng những ngài không chú trọng mặt đẹp ăn ngon,
Lại còn vì chúng sanh mà bán tình thương cho các lòi vật nhỏ.
Và câu nói của Đức Thầy
Ăn để mà sống,
Chớ không phải sống để mà ăn.
Mẫu Chuyện Tiếp Theo
Thầy chứng sự quý y
Ông trưởng bang phổ thông giáo lý tỉnh Phong Vinh
có nhắc mộ chuyện của ông Bảy ở Sà-no như sao?
Số là ông Bảy này có cất nhà ở giữa đồng để làm ruộng,
thường xem sắm giảng của Đức Thầy để tu huyền.
Ông Lập Ngô-Tam-Bảo dạ bàn thông thiên,
khấn nguyện nhờ Đức Thầy chứng giám,
nhưng chỉ tự âm thầm quy y một mình,
chứ không có mặt Đức Thầy ở đó.
Ông tự khép mình vào hàng tính đồ Phật giáo,
ăn chai, giữ giới,
cúng lại,
theo lời Đức Thầy chỉ dạy.
Đến tháng 6 âm lịch,
Đức Thầy về Cần Thơ khuyến Nông.
Ông Bảy đến xin Đức Thầy cho Quy Y.
Ông Bảy sắp trình thưa công việc,
thì bỏng Đức Thầy điểm mặt ông Bảy và nói,
"- Ủa?
Ông đã Quy Y vào lúc 12h trưa tháng Diêng hôm trước tại nhà ông Roma.
Tôi đã chứng kiến một lần cho ông rồi.
Còn quý y gì nữa?
Quý y một lần thôi chứ.
Ông Bảy hết hồn mà trong lòng đầy khâm phục.
Phần nhận xét
Tâm lý chung của con người thì khi họ ân cần mong muốn một điều gì hoặc gian sinh với ai
thì họ rất sợ không được người đó chấp thuận.
Nếu được sự chứng hứa một điều nào quan trọng
thì họ thường lặp lại đôi lần để cho người kia đừng quên.
Thế nên,
ông Bải tuy đã âm thầm phát nguyện quý y,
nhưng vẫn còn lo ngại không biết sự phát nguyện của mình có được Thầy chứng không.
Dốn là một bậc đại giác thì làm gì chẳng rõ được tâm niệm của chúng sanh.
Thế nên,
không để cho đệ tử thắc mắc lo âu,
Mấy người bê thể chậm chân tới Thầy,
nghe theo lời chỉ sau đây,
lãnh bài cầu nguyện về rại Mạ-tu.
bài cầu nguyện mà tu nhưng vẫn được như đã gặp Ngài.
Bởi vì tuy là hữu ảnh vô hình,
chớ dân lòng tưởng,
sân trình đáo lai.
Bởi Phật chỉ dùng chữ tính thành khi được sống bên cạnh Thầy mà không sửa tánh răng lòng,
thì sao bằng người ở xa ngàn dặm mà ngoan đạo tiếng tu.
Xưa,
lúc Phật còn trụ thế,
lúc Ngài đi thuyết Pháp ba tháng ở Thiên Cung mới trở về,
các đệ tử đua nhau ý kiến Ngài.
Tì Kheo Ni liên hoa sắc đến cuối đầu lễ sát chân Phật mà Bạch.
Bạch Đức Thế Tôn,
đệ tử liên hoa sắc người đã đến ý kiến Phật trước nhất,
để lại mừng Ngài từ Thiên Cung vừa mới về tỉnh xác.
Đức Phật từ bi đáp
Liên qua sắc,
con không phải là người đến ý kiến như lai trước nhất đâu
Tì kheo ni liên qua sắc nhìn đi nhìn lại chung quanh
Chưa ai đến trước mình
Bà nói Bạch rằng
Bạch Đức Thế Tôn chớ gì nào đến trước con sao con không thấy
Đức Phật ôn tồn đáp
Chính Tôn Giả Tu Bồ-đề là người đến giếng như lai trước nhất.
Tuy ông chưa đến bằng hình thể,
Chớ tâm ông đang hướng về làm lễ như lai trước hơn các môn đề khác.
Vậy chúng ta là người trí,
Không nên lo sợ là thầy mình không biết rõ việc làm của mình,
Mà phải sợ mình không sáng suốt,
Và đủ nghĩ lực để bỏ những thối hư tật xấu của mình.
Và cũng đừng nên lo tìm hiểu cái quấy dở của kẻ khác mà phê phán.
Khách quan can đảm và nhận xét bại trừ cái quấy dở của mình,
vì lúc nào bên mình cũng có.
Lưỡng thần ghi chép liên miên,
nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Hơn nữa,
đối với Đức Thầy thì
Cặp mắt Thánh dồm xem Tứ Hải
Thương hồng trần mượn sát tái sanh
Mẫu chuyện tiếp theo
Tu Oanh và Tu Tắc
Ông Hai Quê và ông Ba Ngà là hai trong những người mộ đạo
Đã chèo thuyền từ Phú An Tân Châu đến Nhơn Nghĩa để thăm Thầy
Trên đường đi,
hai ông đã đồng ý với nhau là khi đến nơi,
Ông Ngà sẽ xin phép Đức Thầy cho ông được ở lại để hầu hạ Ngài,
Còn ông quê sẽ chèo ghé về một mình.
Khi đến nhà ông Hương Bộ Thạnh,
nơi Đức Thầy tạm trú,
Sau 24 giờ thăm giếng và nghe lời quấn vũ,
Ông Ba Ngà trình với Đức Thầy ý định ở lại hầu hạ Ngài.
Đức Thầy không nói gì,
Đôi mắt tự bi,
nhìn ông Ngà dễ dẻ cảm động.
Rồi Ngài đi thẳng vào phòng.
Lát sau trở ra,
Ngài trao cho ông Ngà bảy đồng bạc và nói
Ông muốn tu thì về cất cái khóc ở sau nhà mà tu.
Và đây là bảy đồng bạc.
Ông hãy cầm lấy đi đường.
Ông Ngà do dự không muốn lấy, thua rằng.
Con đi ghe không tốn tiền.
Đức Thầy bảo
Thầy cho,
thầy phải nhận rồi sẽ rõ.
Khi về đến tổ đình Hòa Hảo,
thì ông Ba Ngà lâm mịnh.
Ông Hai Quê phải chèo một mình về Phú An báo cho thân thuộc ông Ngà hay.
Hôm sau,
ông Ngà được người nhà mướn xe ngựa đến tổ đình chở về nhà.
Đúng bảy ngày,
từ hôm giả biệt đức thầy,
thì ông Ngà bỏ sát.
Mộ phần trông cất phía sau nhà của ông,
dưới một tức nhà mồ theo tục lệ hồi đó,
Cất để che mưa che nắng cho người chết.
Chính hôm sau nữa,
ông Hai Quê đến xà no để báo tin cho Đức Thầy hay.
Nhưng ông chưa kịp nói,
thì Đức Thầy đã bảo
Kiếp sống của Ba Ngà chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Ông Hai Quê thật thà bạch với Đức Thầy rằng
Không biết ông Ngà chết như vậy mà linh hồn có được an ổn để tu hành không?
Đức Thầy đáp
Thầy đã đổ cho ông Ngà,
nhưng đó chỉ là tu quanh.
Vì ông Ngà mới vừa viết đạo,
thì liền bỏ sát.
Ông Hai Quê liền hỏi tới,
Bạch thầy còn thế nào là tu tắc?
Đức thầy giảng cho ông Hai Quê nghe.
Nếu còn sát thịt,
tức là còn sống.
Vừa lo làm ăn,
vừa lo tu hiền,
để tự mình sửa mình.
Độ người khiến họ giữa mình đồng tu thì đó là tu tắc.
Ông Hai quê lãnh hội được tâm pháp của Đức Thầy.
Từ đó ông vừa làm để sống vừa nỗ lực hoàn pháp hành thiện.
Thuộc theo lời của ông Nguyễn Văn Đô
Phần nhận xét
Ông Ba Ngà là một môn đồ có duyên với Đức Thầy nên mới được gặp Thầy và sớm quý y.
Tuy rất thương đệ tử,
nhưng Thầy chỉ cho bảy đồng bạc để báo cho ông biết là ông chỉ sống có bảy ngày nữa mà thôi.
Thầy cho biết,
Ngài đã đổ linh hồn ông,
nhưng đó là tu quanh.
Vì người chết chỉ tu bằng tâm linh,
nên không thể làm được việc lợi tha như người có thể sát.
Sau đây là mẫu chuyện tiếp theo.
Theo Thầy hay theo giáo lý?
Thời gian đi khắp đó đây để quá chúng độ tha,
Những lời thuyết Pháp di dịu thậm thâm của Đức Thầy đã đánh thức biết bao triệu con tiên trở về nguồn giác.
Khác nào ánh Thái Dương rọi tan đám sương mù.
Họ hân quan vì được đếm cam dị của suối Ma-Ha nên rất hăng sai theo góc chân Thầy để có dịp được thêm thấm nhường Pháp Vũ.
Một hôm sau buổi thuyết pháp,
Bọng Ngài đưa Quyển Giảng lên hỏi lớn rằng
Tất cả bộn đạo theo Thầy,
hay theo giáo lý của Thầy?
Tất cả đồng loạt đưa tay lên và đồng thanh ứng
Con theo Thầy, con theo Thầy
Đức Thầy để Quyển Giảng xuống,
nét mặt từ bi,
nhìn khắp các đệ tử rồi bảo
Bà con theo Thầy,
đến khi Thầy vắng mặt rồi theo ai?
Phải theo giáo lý của Thầy mới đúng chứ?
Tất cả những người có mặt đây đây,
vừa được nghe câu kim ngôn của Ngài như một tiếng chuông cảnh tỉnh.
Họ đều cuối đầu lãnh giáo ngọc ngữ của đấng cha lành.
Thuộc theo lời ông cựu hội trưởng quận Thốt Nốt.
quận Thốt Nốt.
Phần nhận xét
Đức Thích Ca Mâu Ni xưa ra đời trụ thế chỉ có 49 năm,
mà chánh pháp của Ngài đến nay,
trên 25 thế kỷ,
vẫn còn chói rạng bốn phương.
Thật vậy,
chánh pháp là chân lý,
mà chân lý là lẻ thật,
thì lẻ thật làm sao mất được?
Bởi Đức Thầy Tiên Tri là Ngài sẽ xa cách Ấn Độ,
Và thời gian xa khách đó là một trận thử thách quá gây go,
nên hành giả phải nắm chặt giáo lý siêu thượng của Ngài,
cũng như người đi biển phải có la bàn vậy.
Nếu không,
họ phải chịu lạc lỏng bơ dơ giữa bao la trời nước,
lại gặp sóng to,
chắc phải làm mòi cho lũ cá.
Cũng thế,
người tu tự xưng mình là tính đồ Phật giáo hòa hảo mà không nắm dững giáo lý của Ngài sẽ dễ bị sai đường, lạc lối.
Dù người rất có tâm thành giới đạo,
bởi có tâm giới đạo mà thiếu trí,
nên khi Thầy Tổ dắn bóng thì dễ bị kẻ giả trá,
bà mị lợi dùng.
Họ nhân cơ hội này mà xưng là tiên Phật
hoặc là Thầy Tổ trở lại.
Các đạo tà mưu khéo âm thầm
Dần ráng tránh kẻo lâm mà khổ
Chụng nó xuôn khuyên răng nhiều chỗ
Dùng phép màu lè mắt trung sâm
Ai ham linh theo nó tập tành,
xa cạm bẫy hoa mong song sót.
Sau đây là mẫu chuyện kế tiếp.
Quy y thì phải làm y.
Năm Canh Thình,
một ngàn chính trăm bốn mươi,
một ngày đẹp trời,
quần chúng đến ý kiến Đức Thầy rất đông.
Họ sắp hàng nhau,
kẻ đứng người ngồi,
tụ hộp trước tổ đình để nghe Đức Thầy thuyết pháp.
Lời của Đức Thầy trong sáng hấp dẫn lạ thường.
Bỗng một đoàn phụ nữ,
khoảng hai mươi người từ ngoài tiếng dào,
giái chào Đức Thầy rồi xếp hàng chen vào đám đông này.
Đức Thầy hỏi,
-"Các bà từ xa đến đây hẳn là mộ đạo và chắc có quy y."
Một bà đứng tuổi cuối đầu nhỏ nhẹ thưa.
Bạch Thầy chúng con đã quý y đầu Phật,
mong theo Phật để tu hành.
Đức Thầy đáp
Được lắm,
biết Đạo là quý,
nhưng từ trước đến nay,
phần đông quý y là chỉ để quý y chứ không làm theo.
Bây giờ quý y thì phải làm y.
Mấy bà nên sửa mình,
trao tâm và niệm Phật.
Rồi Thầy nói thêm.
Việc niệm Phật phải cho bền,
đi đứng,
nằm ngồi đều tưởng niệm không quên.
Bữa củi,
giả gạo,
xách nước,
nấu cơm đều niệm sáu chữ di đà.
Thuật theo Đúc Tự Bi.
Phần nhận xét
Hai chữ quý y đã có từ thế kỷ thứ sáu
và người quý y từ xưa đến nay không thể đếm cho hết được.
Nhưng phần đông người ta thường quý y rồi cứ để y chớ không hề cãi sửa.
Để ý thức chung cho tất cả mọi người,
Ngài nói với mấy bà tính nữ như trên
Cốt để cho chúng ta biết sự tu hành là do ở chỗ trao tâm sửa tánh và chuyên nhất niệm Phật.
Ngài dạy
Nam-ô-a-di-đà-phật
Sáu chữ đi đứng nằm ngồi ráng niệm chớ quên không đỡ gì thời khắc
Dạ!
Ráng trì tâm tượng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp,
Việc biên chuyển thiên cơ rất gấp,
Khuyên trung sanh hải sang tu hành,
Cầu linh hồn cho được dạng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Nếu quy y mà cứ để y thì dù có trải qua vô lượng kiếp cũng chẳng được thành.
Bởi muốn cho tính đồ biết được ý nghĩa của chữ quy y mà nhất tâm trao sửa nên Ngài đã viết ở đoạn khác như sau.
Quy y đầu Phật
là nương nhờ của Phật
và làm y theo lời Phật dạy.
Phật từ thiện cách nào ta phải từ thiện theo cách ấy.
Phật tu cách nào đắc đạo dạy ta ta cũng làm theo cách ấy.
Thầy cảnh tĩnh giác ngộ điều gì chánh đáng thì khá dân lời.
Cần nhất ở chỗ,
giữ giới luật hàng ngày.
Nam Mô Bộn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ôi những lời nói của Đức Thầy như vẫn còn gian dầm đâu đây.
Chúng con vẫn hằng mong ngày Thầy trở lại.
Để chúng con được tắm mình trong tình thương bao la, Cao la,
chan chứa ân lành của chư Phật trong mười phương thế giới.
Xin tạm biệt quý vị và kính chúc quý vị
đạo quả duyên dung trong hồng ân di dịu của Phật Pháp.
Namo Adi Da Phật.
Show more
Artist

Various Artists84732 followers
Follow
Popular songs by Various Artists

Cơ Hội Cuối x Anh Biết Em Không Tin (HL Remix)
WARNER RECORDED MUSIC01:06

Chờ Ngày Mưa Tan - Rock Metal Version
03:43

Chú Địa Tạng Vương Bồ Tát
06:00

Sa Vào Nguy Hiểm x Đáy Biển (Thazh x Đông Remix)
01:00

玫瑰少年 / Thiếu niên hoa hồng (Violin DJ version)
04:04

Nhạc Thiền Hòa Tấu
02:11

Xem Như Em Chẳng May
04:36

Một Đường Nở Hoa / 一路生花
01:47

Windy Hill
05:10

Nhạc Dành Cho Trẻ Sơ Sinh Ngủ Ngon Thông Minh
23:30
Uploaded byHuỳnh Quang Sáng